Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH  GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN CƠ SỞ TIẾNG MẸ ĐẺ

Phần thứ nhất

KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH

GIÁO DỤC SONG NGỮ  TRÊN CƠ SỞ  TIẾNG MẸ ĐẺ

 

1. Bối cảnh

Các bằng chứng quốc tế khẳng định giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ (GDSNTCSTMĐ) là phương pháp tiếp cận phù hợp hỗ trợ giáo dục dân tộc thiểu số. HS được học tập bằng ngôn ngữ đầu tiên của mình (tiếng mẹ đẻ) sẽ đạt được kết quả học tập tốt hơn. Với ngành giáo dục, phương pháp này sẽ tăng cường khả năng tiếp cận nền giáo dục có chất lượng và bình đẳng, cải thiện kết quả học tập, góp phần giảm tỷ lệ HS lưu ban và bỏ học, mang lại lợi ích về văn hóa xã hội và chi phí trong ngành giáo dục sẽ giảm đi một cách đáng kể. Việc sử dụng ngôn ngữ TMĐ đảm bảo kiến thức kinh nghiệm HS mang đến trường được sử dụng làm cơ sở cho việc tiếp tục học tập tiếp theo. Việc áp dụng chương trình GDSNTCSTMĐ đối với học sinh dân tộc thiểu số (HSDT) là giải pháp nhằm từng bước khắc phục khoảng cách trong kết quả giáo dục giữa miền núi, vùng DTTS với miền xuôi, vùng phát triển. Để hỗ trợ HSDT ở Việt Nam được tiếp cận với cơ hội học tập có chất lượng, với sự hỗ trợ của UNICEF, từ năm 2008 Bộ GD&ĐT đã và đang triển khai Chương trình Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ tại 3 tỉnh: Lào Cai, Gia Lai và Trà Vinh với 3 ngôn ngữ DTTS là Mông, Jrai và Khmer. Năm học 2011 - 2012 là năm thứ 4 triển khai thực hiện Nghiên cứu.

2. Mục tiêu chung và kết quả mong đợi

2.1. Mục tiêu:

- Triển khai và khẳng định tính khả thi của thiết kế giáo dục GDSN trên cơ sở tiếng mẹ đẻ ở mầm non và tiểu học.

- Góp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách, chia sẻ kinh  nghiệm dạy và học tốt cho HSDT nhằm thúc đẩy việc sử dụng tiếng dân tộc như một giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận tới nền giáo dục cơ bản có chất lượng và bình đẳng .

2.2. Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ hướng tới những kết quả sau:

- Xây dựng thiết kế nghiên cứu chi tiết bao gồm phương pháp và đánh giá kết quả học tập của HSDT;

- Các nhà hoạch định chính sách, quản lý giáo dục  ở tất cả các cấp, Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh và cộng đồng hiểu, ủng hộ và hỗ trợ GDSNTCSTMĐ;

- Xây dựng tài liệu dạy và học, tài liệu tham khảo, tài liệu truyền thông bằng tiếng dân tộc;

- Thực hiện chương trình bồi dưỡng cho giáo viên thông qua bồi dưỡng thường xuyên và hỗ trợ đào tạo chính quy;

- Các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, trợ giảng  và thực tập sinh tại địa bàn Nghiên cứu sẽ hiểu và biết cách áp dụng phương pháp GDSNTCSTMĐ vào việc quản lý nhà trường và giảng dạy trên lớp ;

- Thực hiện thành công mô hình GDSNTCSTMĐ tại các trường mầm non và tiểu học đã được lựa chọn và đánh giá được kết quả học tập của học sinh.

3. Phương pháp tiếp cận GDSNTCSTMĐ

- Từ mầm non đến lớp 1 và lớp 2: Tiếng DTTS (tiếng mẹ đẻ của học sinh) được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy.

- Từ lớp 3 đến lớp 5: Tiếng Việt sẽ được đưa vào cùng với tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giảng dạy .

- Hết lớp 5, học sinh sẽ có khả năng nghe, nói, đọc, viết bằng cả hai thứ tiếng, vượt qua rào cản về ngôn ngữ.

4. Địa bàn

- Tỉnh Lào Cai với nhóm dân tộc Mông: 5 lớp tại 3 trường Mầm non, 5 lớp tại 3 trường Tiểu học.

- Tỉnh Gia Lai với nhóm dân tộc Jarai: 4 lớp tại 2 trường Mầm non, 4 lớp tại 2 trường Tiểu học.

- Tỉnh Trà Vinh với nhóm dân tộc Khmer: 4 lớp tại 2 trường Mầm non, 4 lớp tại 2 trường Tiểu học.

5. Kết quả đạt được trong giai đoạn 2008-2011

- Xây dựng chương trình song ngữ cho mẫu giáo 5 tuổi ở bậc Mầm non và chương trình song ngữ cho cấp Tiểu học với sự tham gia của các chuyên gia giáo dục và trí thức địa phương.

- Xây dựng và in tài tài liệu dạy / học mầm non và tiểu học (lớp 1, 2, 3) bằng cả 3 ngôn ngữ Mông, Jarai và Khmer.

- Tập huấn cho 163 giáo viên Mầm non, Tiểu học và CBQL giáo dục của 3 tỉnh về đọc, viết tiếng mẹ đẻ.

- Thường xuyên tổ chức các hội thảo, tập huấn cho 149 giáo viên và CBQL giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về phương pháp GDSNTCSTMĐ bao gồm bồi dưỡng thường xuyên về phương pháp dạy học song ngữ, phương pháp dạy học tích cực và sử dụng nguyên vật liệu địa phương để làm đồ dùng dạy học.

- Hai lứa học sinh tham gia vào Nghiên cứu thực hành gồm lứa thứ nhất năm học 2008-2009 có 262 học sinh học tại 13 lớp mẫu giáo 5 tuổi; lứa thứ hai năm học 2009-2010 có 274 học sinh học tại 13 lớp Mẫu giáo 5 tuổi. Chương trình thử nghiệm GDSN sẽ hoàn thành vào năm học 2014 khi lứa học sinh thứ nhất học hết lớp 5; và vào 2015 với lứa học sinh thứ hai.

Kết quả đạt được trong năm học 2009-2010:

-Về ngôn ngữ học sinh đạt được kết quả rất tốt trong cả hai môn tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt với 89% học sinh đạt và vượt chuẩn về Tiếng Việt và 85% đạt chuẩn về ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ.

- Về Toán kết quả đều bằng hoặc vượt chuẩn ở cả cấp độ Giỏi, khá, trung bình. Không có học sinh bị kết quả yếu.

- Giáo viên có phần tự tin hơn vào khả năng giảng dạy của mình.Học sinh tự tin hơn trong giao tiếp, hiểu và nắm bắt nhanh các khái niệm. Học sinh có kỹ năng tốt khi nghe hiểu, nói và vốn từ vựng vượt trội so với học sinh đồng lứa không tham gia Nghiên cứu.

- Cha mẹ và cộng đồng rất hài lòng với kết quả học tập, khả năng đọc, nói tiếng mẹ đẻ của con em.

6. Chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Trong các công văn hướng dẫn về tăng cường Tiếng Việt cho học sinh DTTS, Bộ GD&ĐT xác định GDSNTCSTMĐ là một trong 5 giải pháp tăng cường Tiếng Việt. Chỉ đạo 3 tỉnh tham gia Chương trình Nghiên cứu thực hiện có kết quả.

Phần thứ hai

THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH

GIÁO DỤC SONG NGỮ  TRÊN CƠ SỞ  TIẾNG MẸ ĐẺ

TẠI ĐỊA PHƯƠNG

 

1.Yêu cầu chung

- Cán bộ quản lý giáo dục các cấp, đặc biệt là cấp Sở GD&ĐT nhận thức được tác dụng của việc tham gia thực hiện chương trình thử nghiệm giáo dục song ngữ cho học sinh thuộc người dân tộc thiểu số có tiếng nói và chữ viết riêng, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Căn cứ thực tiễn địa phương, báo cáo UBND tỉnh  đồng ý cho tham gia chương trình Nghiên cứu thực hành GDSNTCSTMĐ. Phối hợp để UBND huyện đồng thuận cho các trường tham gia chương trình Nghiên cứu.

-  Sở GD&ĐT lựa chọn địa bàn triển khai thực hiện, sau đó tổ chức làm việc với Phòng GD&ĐT, trường tiểu học được lựa chọn để thống nhất nhận thức, quan điểm, cách thức và các điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất cho việc triển khai thực hiện.

- Việc lựa chọn lớp tham gia phải đảm bảo nguyên tắc: Lớp học có 100% học sinh cùng một dân tộc thiểu số; có giáo viên là người dân tộc biết nói và viết tiếng dân tộc thành thạo; cha mẹ học sinh tự nguyện cho con học.

- Sở GD&ĐT cần chủ động phối hợp với Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam để được giúp đỡ, hỗ trợ.

2.  Các bước thực hiện

2.1. Sở GD&ĐT

- Lãnh đạo Sở GD&ĐT quán triệt tinh thần triển khai thực hiện chương trình giáo dục song ngữ tới lãnh đạo các Phòng, Ban của Sở và Phòng GD&ĐT.

- Phòng Giáo dục Tiểu học giúp Giám đốc Sở thực hiện các công việc sau:

+ Cử một chuyên viên phụ trách Tiểu học phụ trách, theo dõi trong suốt quá trình triển khai thực hiện.

+ Xây dựng kế hoạch triển khai.

+ Phối hợp với Phòng GD&ĐT lựa chọn trường, giáo viên dạy.

+ Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngôn ngữ, kiến thức văn hóa dân tộc cho cán bộ quản lý, GV của trường và lớp tham gia Nghiên cứu. Giảng viên là trí thức dân tộc tại địa phương.

- Sở GD&ĐT kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện ở Phòng GD&ĐT, trường tiểu học để kịp thời điều chỉnh, hướng dẫn.

2.2. Phòng GD&ĐT

- Phòng GD&ĐT báo cáo UBND huyện về việc tham gia Nghiên cứu.

- Lãnh đạo Phòng GD&ĐT quán triệt yêu cầu tới Ban giám hiệu, giáo viên trường tiểu học triển khai thực hiện. CBQL thảo luận về cách tổ chức thực hiện ở trường.

- Căn cứ thực tiễn, Phòng GD&ĐT họp với cấp ủy, chính quyền các xã để thống nhất nhận thức, cách thức triển khai thực hiện.

- Phòng GD&ĐT tổ chức kiểm tra, nắm tình hình ngay khi bắt đầu thực hiện. Phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc với Sở GD&ĐT và Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc.

- Tổ chức cho các trường tham gia Nghiên cứu trao đổi chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

2.3. Trường Tiểu học

- Hiệu trưởng báo cáo với cấp ủy, chính quyền địa phương về kế hoạch triển khai thực hiện.

- Tổ chức họp phụ huynh học sinh để tuyên truyền về việc cho con em tham gia chương trình Nghiên cứu GDSNTCSTMĐ.

- Hiệu trưởng họp Hội đồng sư phạm nhà trường để triển khai kế hoạch thực hiện. Phân công nhiệm vụ cho cán bộ, giáo viên.

- Nhà trường lập kế hoạch dạy học cho các lớp thực hiện chương trình Nghiên cứu phù hợp thực tiễn của trường.

- Tổ trưởng chuyên môn họp bàn với giáo viên thống nhất việc giảng dạy phù hợp với chương trình và học sinh.

- Trong năm học, cử giáo viên tham gia đầy đủ các đợt tập huấn

- Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn thường xuyên thăm lớp, dự giờ kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của GV trong quá trình thực hiện.

2.4. Giáo viên

- Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, tích cực học hỏi để nâng cao khả năng về ngôn ngữ dân tộc đang dạy, học hỏi phương pháp dạy học song ngữ, vận dụng vào từng bài soạn phù hợp để trao đổi với đồng nghiệp ngay tại lớp tập huấn, hội thảo.

- Căn cứ vào trình độ, năng lực học sinh của lớp đang dạy áp dụng phù hợp các phương pháp vào từng bài soạn và lên lớp đảm bảo nguyên tắc dạy đâu được đấy, chỉ chuyển nội dung, chuyển bài khi học sinh đã nắm chắc. Sưu tầm các đồ dùng, các câu chuyện, bài hát của dân tộc thiểu số ở địa phương để phục vụ cho giảng dạy.

- Ghi nhật ký giảng dạy để góp ý hoàn thiện tài liệu; rút kinh nghiệm điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp ở các năm học tiếp theo.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED