Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Bắc Giang - Đôi điều suy ngẫm về việc dạy học chương trình Tiếng Việt 1 Công nghệ GIáo dục (2016)

 

ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM VỀ VIỆC DẠY-HỌC
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Năm học 2015-2016, cùng với việc thực hiện chương trình giáo dục hiện hành, chương trình giáo dục trường học Việt Nam mới, ngành giáo dục Yên Dũng nói riêng và Giáo dục Bắc Giang nói chung triển khai chương trình TV1-CGD. Trường Tiểu học Lãng Sơn là một trong số 11 trường trên địa bàn huyện Yên Dũng được tổ chức dạy học TV1-CGD.
Ngay từ đầu năm học, ngoài việc tham dự nghiêm túc các đợt tập huấn do Sở GD-ĐT, phòng GD-ĐT, nhà trường đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện chi tiết cho từng tuần, từng tháng, từng kỳ. Trực tiếp đồng chí hiệu trưởng dạy 2 tiết/tuần môn TV1-CGD. Ban giám hiệu tổ chuyên môn luôn đi đầu gương mẫu cùng học hỏi cùng làm với giáo viên để hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì. Ngay từ đầu năm nhà trường tổ chức họp phụ huynh tuyên truyền về trương trình TV1-CGD. Bản thân tôi được đi tập huấn ở tỉnh về, tôi luôn nghiên cứu tài liệu, thiết kế, xem đĩa để có thêm kinh nghiệm áp dụng vào việc giảng dạy. Ở phần học âm dựa vào thiết kế, dựa vào bài giảng mẫu trên đĩa, tôi đã cụ thể hóa quy trình 4 việc của tiết dạy cho các giáo viên trong tổ tham khảo.
Đối với lớp mình dạy, lúc nào tôi cũng suy nghĩ trăn trở làm thế nào để áp dụng thành công chương trình tiếng việt 1 công nghệ giáo dục. Ngay từ đầu năm, ngoài việc nhà trường tổ chức họp phụ huynh tuyên truyền về chương trình này khi họp riêng ở lớp tôi cũng trao đổi chia sẻ với phụ huynh về cách đọc, cách phân tích tiếng, vần, …
Đi tập huấn, được các báo cáo viên chia sẻ: những tiết học đầu tiên rất quan trọng đối với học sinh, giúp học sinh làm quen với lối sông mới ở trường. Do vậy ngay từ những ngày đầu dạy ở tuần 0 tôi dạy các em chậm, hướng dẫn tỉ mỉ các thao tác, các ký hiệu, hiệu lệnh. Khi vào lớp tất cả học sinh làm theo lệnh của giáo viên, nếu em nào làm chưa đúng cô sửa cho đúng, không nên nhân nhượng, giao việc gì học sinh làm việc đó. Ngay từ đầu đưa học sinh vào nền nếp, làm nghiêm túc, kỷ luật nghiêm. Trong các tiết dạy của các tuần tiếp theo tôi luôn chú ý quan tâm đến quy trình 4 việc nên việc dạy cũng có phần thuận lợi hơn.
Song bên cạnh đó khi dạy theo chương trình công nghệ, tôi gặp không ít những khó khăn như:
- Nhiều năm dạy theo chương trình hiện hành nên quen với phương pháp đó nên khi dạy còn nhầm lẫn giữa chương trình hiện hành với chương trình cộng nghệ giáo dục.
- Việc dạy học sinh đánh vần gặp nhiều khó khăn, bởi ở lớp cô dạy thế này nhưng về nhà bố mẹ dạy thế khác. Ví dụ: + khi đánh vần tiếng bà, cô giáo dạy: bà - /ba/- huyền- /bà/, về nhà bố mẹ lại dạy: bờ - a – ba - huyền - bà.
+ Khi cô giáo dạy đánh vần vần oan là /oan/ - /o/- /an/- /oan/, về nhà bố mẹ lại dạy là o – a - nờ - oan.
+ Khi đánh vần tiếng ke, cô giáo dạy: /ke/- /cờ/ - /e/ - /ke/, về nhà bố mẹ lại dạy là: /ca/- /e/- /ke/…..
- Nhiều bài dài một vài em không đọc được dẫn đến viết chính tả cũng gặp khó khăn.
Khi dạy gặp khó khăn như vậy nên tôi nghĩ làm thế nào để khắc phục được những khó khăn này. Tối nào tôi cũng dành không ít thời gian để đọc thiết kế, xem đĩa mẫu, nếu có vướng mắc gì lại gọi điện hỏi các đồng chí trong ban giám hiệu để tiết dạy đạt hiệu quả hơn. Tôi nhớ có lần khoảng gần 10 giờ đêm, tôi gọi điện hỏi một chút về bài dạy, qua điện thoại tôi nghe tiếng đọc, tiếng vỗ tay của học sinh, tôi hỏi chị: chị ở đâu mà em nghe như có tiếng học sinh lớp 1 học đấy? Chị trả lời: chị đang dự giờ môn TV 1- CGD trên mạng đấy. Khi nghe chị nói vậy, tôi nghĩ rằng chị là một hiệu trưởng mà vẫn ham chuyên môn như vậy, chị là động lực để tôi cố gắng trong mọi công việc nhất là trong lĩnh vực chuyên môn. Hằng ngày, tôi đọc thiết kế để thuộc các khâu- bước của tiết dạy, dùng thường xuyên các kí hiệu, hiệu lệnh, khẩu lệnh ngắn gọn để các em dễ hiểu. Đối với những em đánh vần còn sai, tôi trực tiếp gặp phụ huynh trao đổi, chia sẻ cách dạy các em đánh vần khi ở nhà. Hằng ngày giờ truy bài tôi kiểm tra những em học chậm, giúp đỡ hướng dẫn để em đọc cho đúng. Nhiều hôm tôi xin phụ huynh 10 - 15 phút cuối buổi chiều để rèn đọc hoặc rèn viết cho các em. Với sự nhiệt tình của bản thân, sự nỗ lực phấn đấu của các em học sinh cùng với sự cộng tác nhiệt tình của phụ huynh mà chất lượng môn tiếng việt công nghệ giáo dục của lớp đạt kết quă khá tốt trong kỳ 1 vừa qua. Không chỉ thể hiện ở bài kiểm tra định kỳ mà còn thể hiện ở trong những bài học hằng ngày.
Hàng tuần, trường tôi đều tổ chức sinh hoạt chuyên môn tập trung cả trường. nhưng với khối 1 ngoài việc tập trung ở trường ra thì Phòng giáo dục tổ chức cho chúng tôi sinh hoạt chuyên môn theo khu môn TV1-CGD. Ngày 12 tháng 01 năm 2016 tôi được nhà trường phân công dạy chuyên đề khu. Sau khi nhận nhiệm vụ tôi rất lo lắng bởi lẽ năm nay mới áp dụng công nghệ nên việc dạy cũng có phần không tự tin. Nhưng được sự động viên của các đồng chí trong Ban giám hiệu, các đồng chí giáo viên trong tổ nên tôi cũng vững tâm hơn. Trước khi dạy tôi chia sẻ với các đồng chí trong ban giám hiệu và tổ chuyên môn: các tiết dạy khu trước, các đồng chí đều dạy việc 1, việc 2 của bài, lần này em sẽ dạy việc 3, việc 4 bài vần /oăn/, /oăt/ để mọi người tham gia đóng góp về quy trình, hình thức tổ chức để tiết sau mình dạy sẽ có hiệu quả hơn. Mọi người đều nhất trí với chia sẻ của tôi. Vì không có thời gian nhiều để chuẩn bị bài, nên cuối buổi học ngày thứ hai sau khi cho học sinh về thì tôi nêu quy trình dạy cho đồng chí hiệu trưởng và các đồng chí giáo viên trong tổ nghe, các đồng chí trao đổi và bổ sung phương án lên lớp cho tôi. Đúng 14 giờ 15 phút tiết học bắt đầu, tiết học có đồng chí Nguyệt trong Hội đồng bộ môn của huyện cùng toàn thể các đồng chí giáo viên dạy lớp 1 công nghệ giáo dục của khu tới dự. Bắt đầu vào việc 3 tôi hỏi : “Sáng nay các em được học 2 vần gì?”, nhiều cánh tay giơ lên, em Quỳnh Anh trả lời : “Thưa cô vần oăn, vần oăt ạ” tôi hỏi tiếp: Bằng cách nào em có vần oăn, vần oăt? Em Huy trả lời : “em làm tròn môi vần ăn, ăt, bằng cách đệm âm o vào trước vần ăn, vần ăt ạ”.  Tôi nói : “đọc lại nội dung việc 1, việc 2” mời em Quỳnh Anh lên cho các bạn đọc. Quỳnh Anh tự tin lên cho các bạn đọc cá nhân, nhóm, cả lớp. Khi cho các bạn đọc Quỳnh Anh kết hợp cho các bạn phân tích tiếng bất kỳ bằng thao tác tay, các em đọc rất tốt. Bài học tôi rút ra được ở đây là hằng ngày phải tạo cơ hội cho các em được nói trước lớp, được lên cho các bạn đọc, rèn cho các em tự tin mạnh dạn trong các hoạt động học tập.


Học sinh tự tin điều hành hoạt động học

Toàn cảnh lớp học

Sau đó tôi nói : “Phần luyện đọc có một số tiếng chứa luật chính tả, các em hãy nhẩm theo tay cô viết” tôi thấy các em chăm chú theo dõi và nhẩm theo. Sau khi cho các em luyện đọc tôi hỏi: Những tiếng nào có chứa luật chính tả? em Dung trả lời : “Thưa cô, các tiếng què, quặt, quá, quắt có chửa luật chính tả”. “Các tiếng này có chứa luật chính tả gì?” Em Chung trả lời : “Thưa cô, có chứa luật chính tả âm c đứng trước âm đệm phải ghi bằng con chữ q và âm đệm thay bằng con chứ u” tôi hỏi các em có nhất trí với câu trả lời của bạn không? cả lớp vỗ tay nhất trí.
- Còn tiếng nào có chứa luật chính tả không?
Các em im lặng suy nghĩ, các cánh tay đã giơ lên, em Quang nói : “tiếng khuya có luật chính tả, âm /ia/ trong vần có âm đệm và không có âm cuối khì viết bằng y dài a”
Qua đây tôi thấy rằng nhiều năm tôi dạy lớp 1 nhưng để học sinh nắm chắc được luật chính tả như chương trình TV1- CGD dục này rất khó. Có khi các em  viết đúng chính tả nhưng không nói được tại sao viết như vậy. Có phụ huynh gặp tôi chia sẻ : “Chị ạ trẻ con bây giờ giỏi thật, khi em đọc cho con em viết tiếng “quan” nó viết được, đúng chính tả và nó còn nói được tại sao viết thế, em là mẹ cũng chỉ viết đúng nhưng cũng không giải thích được vì sao lại viết như vậy” tôi nghe mà rất vui vì khi áp dụng chương trình công nghệ này đa số học sinh nắm chắc được luật chính tả. Nhưng để học sinh nắm được luật chính tả thì trong bất kỳ tiết học nào cứ gặp tiếng có luật chính tả, giáo viên phải ôn lại cho các em ngay thì các em sẽ nắm rất chắc luật chính tả. Sau khi luyện đọc trên bảng xong tôi cho các em đọc trong sách giáo khoa, thay vì bằng khẩu lệnh mở sách trang 86 và đọc thầm thì tôi dùng ký hiệu chỉ vàoS86 kết hợp chỉ vào kí hiệu đọc thầm cho học sinh làm theo để rèn cho học sinh ý thức luôn chú ý vào bài, nếu không chú ý sẽ không làm theo được. Sau đó tôi cho các em luyện đọc phần vần và mô hình trước rồi luyện phần các tiếng phía dưới với hình thức đọc cá nhần, nhóm, đồng thanh, các em đọc rất tốt. Chuyển sang trang 87, tôi cũng chỉ vào ký hiệu trên bảng để học sinh đọc thầm, các em đọc thầm khá tốt các em chăm chú chỉ tay vào bài để đọc. Trong vòng hơn một phút thì có tín hiệu của 20/22 em đọc thầm xong, chỉ còn em Hiền và em Hải Anh đọc chậm hơn các bạn một chút, tôi quyết định chờ và rồi em đã đọc xong.
Bài học ở bước đọc thầm này là hằng ngày giáo viên luôn tạo cho các em thói quen đọc thầm (đọc bằng mắt), giáo viên phải kiểm soát được việc đọc của các em nếu không các em chưa đọc xong đã giơ tay báo hiệu đọc xong rồi. Chương trình công nghệ luôn luôn chú ý bước đọc bằng mắt do vậy chúng ta không nên bỏ qua bước này nhé. Khi học sinh đọc thầm xong tôi đọc mẫu cả trang, yêu cầu học sinh dùng bút chì gạch chéo các câu trong bài tập đọc. Thay bằng hình thức đọc cá nhân, đọc theo tổ, phần luyện đọc các tiếng trên bài đọc tôi cho các em đọc trong nhóm đôi, các em đọc rất sôi nổi.

Học sinh trao đổi nhóm

Phần bài đọc với trình độ của lớp tôi, tôi cho học sinh luyện đọc cả bài, Tôi cho các em luyên đọc từng câu, từng đoạn theo hình thức đọc nối tiếp cá nhân, nối tiếp nhóm, đọc đồng thanh. Các em đọc khá tốt. Để học sinh đọc được như vậy tôi nhắc học sinh luôn luôn dùng cái đã học (luyện đọc những tiếng chứa âm vần đã học), nên cuối buổi học nào tôi cũng dành khoảng 5 phút đọc cho các em nghe bài hôm sau để các em về xem trước bài, đến lớp các em chỉ cần luyện các tiếng có vần mới là các có thể đọc được bài ngay.
Hết việc 3 tôi cảm thấy khá hài lòng vì các em đọc bài khá tốt. Song tôi nghĩ nếu phần luyện đọc có em đọc vẹt thì liệu việc 4 các em có thực hiện được không?
Khi sang việc 4, sau khi đọc mẫu bài viết tôi cho các em viết tiếng  khó vào bảng con,  hầu hết các em viết rất tốt Tôi đọc cho các em viết bài vào vở các em viết khá tốt (mặc dù tuần 20 là tuần đầu tiên viết chữ cỡ nhỏ và lớp tôi mới học viết bút mực được vài ngày), các thầy cô dự giờ đều đứng dậy đi xem các em viết bài và tấm tắc khen. Lúc này tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu các em đọc vẹt thì làm sao các em có thể viết được. Vì thời gian tiết học có hạn nên tôi quyết định cho các em viết 3 câu của bài viết, các em viết được bài và đã đảm bảo tốc độ.



Lớp học có trên 90% bài viết như thế này
Tiết học kết thúc, khi rút kinh nghiệm tôi rất vui khi được các đồng chí dự giờ đánh giá tiết học khá thành công. Giáo viên nắm vững phương pháp dạy, sử dụng khẩu lệnh ngắn gọn, dùng  ký hiệu trong giảng dạy khá thành thạo, học sinh đọc được bài, viết được bài theo yêu cầu, đảm bảo tốc độ và chữ viết khá đẹp đều nét. Song bên cạnh thành công đó thì vẫn còn hạn chế cô giáo đọc mẫu còn nhanh, cần đọc chậm hơn để học sinh tiện theo dõi. Bài học rút ra là để dạy một tiết học thành công thì giáo viên phải tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu kỹ thiết kế, tham khảo các mẫu giảng, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học, từ đó thiết kế bài giảng của mình sao cho linh hoạt phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh. Thao tác vẽ mô hình của giáo viên cần đúng chuẩn, khi viết mẫu phải đảm bảo về độ cao các con chữ, kiểu chữ đứng, đảm bảo khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng. Giáo viên cần giao việc chậm, tỉ mỉ, chính xác, cụ thể. Thao tác làm mẫu cũng vậy phải tỉ mỉ chính xác, chậm, rõ ràng. Luôn luôn tạo không khí cởi mở thân thiện với các em học sinh trong lớp để giờ học được vui tươi thoải mái.
Như vậy việc dạy chương trình TV1- CGD mới được một học kỳ nhưng đã gặt hái được rất nhiều thành công so với chương trình cũ như: học sinh chủ động hoàn toàn trong việc chiếm lĩnh kiến thức, được tư duy và tự ghi lại các chữ vừa được học lại một cách chính xác, nắm chắc luật chính tả. Điểm nổi bật của phương pháp này là tính vững chắc, học sinh học đâu chắc đấy, ngay từ đầu học sinh đã được viết chính tả nghe viết, viết chính tả là cách làm việc trí óc, không như tập chép nhìn chữ có sắn rồi “vẽ” lại.
Một điểm khác với phương pháp dạy học truyền thống nữa là giáo viên không phải cầm tay giúp học sinh tập viết mà các em tự tư duy bài giảng dưới hình thức nghe, hiểu và viết lại. Như vậy chương trình TV1 – CGD đã tích hợp được rất nhiều kỹ năng cho học sinh. Qua các lớp học này kiến thức và năng lực giáo viên cũng được nâng cao rất nhiều, giáo viên hiểu cặn kẽ về ngữ âm, luật chính tả...
Theo giáo sư Hồ Ngọc Đại, “cha đẻ” của chương trình TV1-CGD, để dạy tốt TV1- CGD phải mất một vài năm vì so với chương trình cũ, chương trình mới khác hoàn toàn từ nội dung, phương pháp, cách thức…Tuy nhiên, nếu áp dụng thành công, sẽ góp phần quan trọng trong việc đổi mới giáo dục tiểu học theo tinh thần Nghị quyết số 29- NQ/TƯ của BCH Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm như trên thì vẫn còn một số hạn chế như một số tiết học nội dung dài chưa đảm bảo thời gian, việc kiểm tra đánh giá học sinh sẽ bị hạn chế nếu lớp học quá đông, học sinh đã phải viết chữ hoa ngay từ tuần 20 nên việc dạy rất khó khăn.
Để khắc phục những hạn chế trên, bản thân tôi đã thực hiện như sau:
1. Đối với những tiết học có nội dung dài chưa đảm bảo thời gian (không kể những tiết có 6 vần thay vì học 2 tiết thì được phép kéo dài 3 tiêt), khi dạy việc 0, việc 1 tôi dạy tỉ mỉ theo khâu- bước của thiết kế để 100 % học sinh trong lớp hoàn thành bài. Sang việc 2 phần luyện viết trên bảng con thì 100 % học sinh trong lớp được viết, còn phần viết vào vở em tập viết tôi luôn quan sát tốc độ viết của học sinh, nếu em nào viết đúng và nhanh thì thưởng cho viết dòng ngôi sao, khi thấy tất cả học sinh trong lớp viết hết nội dung phần quyển sách thì tôi chuyển sang việc 3 còn phần ngôi sao và phần ngôi nhà cho học sinh viết ở tiết tiếng việt buổi chiều. Ở việc 3, việc 4 tôi có thể co lại để rút ngắn thời gian mà vẫn đảm bảo được việc luyện đọc, luyên viết cho học sinh.
Ví dụ: + Ở việc 3 phần luyên đọc lại nôi dung của việc 1, việc 2 thay việc cho học sinh đọc cá nhân, nhóm, tổ, đồng thanh thì tôi chỉ gọi vài em đọc chậm luyện đọc lại rồi cho lớp đọc đồng thanh (vì ở việc 1, việc 2 các em đã được đọc rồi). Phần luyên đọc bài tập đọc trong sách ở trang lẻ thì tùy theo thời gian, tùy theo đói tượng học sinh chúng ta luyện cho học sinh đọc câu, đọc đoạn có vần mới học chứ không nhất thiết phải luyện đọc cả bài, phần còn lại của bài có thể cho học sinh luyện đọc vào tiết tiếng việt buổi chiều.
+ Ở việc 4 cũng vậy nếu đoạn viết quá dài thì tôi cho học sinh viết 2 đến 3 câu, còn lại cho viết vào buổi chiều ( lưu ý: chỉ có thể lược bớt nội dung bài đọc hoặc nội dung bài viết chứ quy trình đọc viết không được cắt bớt)
2. Ở chương trinh cũ thì có phần kiểm tra đánh giá học sinh rất cụ thể nhưng ở chương trinh này không có phần kiểm tra đánh giá mà chỉ có phần ôn lại mẫu đã hoc ( việc o), vậy chúng ta kiểm tra đánh giá vào lúc nào, theo tôi thì phần luyện đọc ở việc 3 của mỗi tiết học, nghe học sinh đọc chúng ta có thể đánh giá được em đó có hoàn thành nội dung bài chưa, nếu chưa hoàn thành thì phải rèn thêm cho học sinh vào giờ truy bài hoặc thời gian nào đó do giáo viên tự sắp xếp.
3. Phần viết chữ hoa quả là khó khăn đối với học sinh lớp 1: Ở lớp tôi, sau khi cho học sinh quan sát chữ mẫu, nêu cấu tạo, tôi viết mẫu chữ cỡ nhỏ trên dòng kẻ li phóng to ( kẻ sẵn trên bảng lớp) để học sinh quan sát rõ được điểm đặt bút điểm dừng bút, độ rộng, độ cao của chữ hoa nên các em luyện viết trên bảng con cũng dễ dàng hơn.
- Khi viết vào vở phần tô chữ hoa và phần viết vần, từ thì tôi cho 100 % học sinh viết bút mực. Còn phần viết chữ hoa những em viết chậm hoặc viết mới thành hình chữ chưa đúng mẫu, tôi cho viết bằng bút chì cho quen tay, rồi chuyển dần sang viết bằng bút mực.
Mặc dù đã có những giải pháp như vậy, nhưng việc áp dụng công nghệ giáo dục vẫn còn rất nhiều khó khăn ở thời gian tới. Nhưng tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục và đào tạo, của ban giám hiệu nhà trường cùng với sự nhiệt tình, tận tâm, trách nhiệm của mỗi cô giáo, sự ủng hộ của mỗi phụ huynh thì chương trình dạy học Tiếng Việt 1 công nghệ giáo dục sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.
Nguyễn Thị Vang - Giáo viên trường Tiểu học Lãng Sơn

(Theo phòng Giáo dục và đào tạo huyện Yên Dũng - Tỉnh Bắc Giang)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED