Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Nghiên cứu phương thức triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục (CGD) về địa phương và đề xuất giải pháp tối ưu trong điều kiện hiện có

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Ngô Thị Tuyên

Nghiên cứu phương thức triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục (CGD) về địa phương và đề xuất giải pháp tối ưu trong điều kiện hiện có

HÀ NỘI 2011

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

  1. Tổng quan và tính cấp thiết của nhiệm vụ nghiên cứu
  2. Mục đích nghiên cứu
  3. Nội dung nghiên cứu
  4. Thời gian nghiên cứu
  5. Phương pháp nghiên cứu
  6. Dự kiến kết quả và sản phẩm nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  1. 1. Kế hoạch triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục về địa phương của các năm học 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012:

1.1.               Phạm vi triển khai

1.2.               Nội dung cụ thể

1.3.               Quản lý tài chính

1.4.               Cơ chế báo cáo

  1. 2. Kết quả triển khai:

2.1.               Kết quả triển khai năm học 2009-2010

2.2.               Kết quả triển khai năm học 2010-2011

2.3.               Kết quả triển khai một số hoạt động năm học 2011-2012

  1. 3. Phân tích những mặt tích cực và bất cập của việc triển khai những năm qua về mặt quản lý:
  2. 4. Đề xuất giải pháp cho việc triển khai Tiếng Việt 1 CGD về địa phương năm học 2012-2013

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

THUYẾT MINH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CÁ NHÂN

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau một thời gian phụ trách việc triển khai Tiếng Việt 1 CGD ra địa phương, trải nghiệm mặt khả thi và hạn chế của phương pháp triển khai, tác giả dùng phương pháp hồi cứu, trải nghiệm cá nhân, khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp nhằm khái quát kết quả đạt được trong những năm học 2009-2010, 2010-2011 và học kỳ 1 năm học 2011-2012 và đề xuất tháo gỡ các khó khăn về mặt quản lý và phối hợp quản lý để việc thực thi nhiệm vụ này hiệu quả hơn ở năm học tiếp theo.

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

MỞ ĐẦU

  1. 1. Tổng quan và tính cấp thiết của nhiệm vụ nghiên cứu:

Giáo dục tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đặc biệt là trong việc dạy tiếng Việt cho con em các dân tộc thiểu số. Trước tình hình thực tế là việc dạy tiếng Việt cho con em vùng dân tộc thiểu số chưa đạt được hiểu quả như mong muốn, từ năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Chương trình tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc, trong đó có phương án sử dụng tài liệu Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục. Ngày 19/8-2009, Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT đã ra quyết định số 5236/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học do Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển làm Trưởng ban, Vụ Trưởng Vụ GDTH làm Phó Trưởng ban thường trực; Phó Viện Trưởng Viện KHGDVN và Phó Vụ Trưởng Vụ GDTH làm phó Trưởng ban (Xem phụ lục). Theo đó, năm học 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012 Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục (CGD) về địa phương. Trung tâm Công nghệ Giáo dục là cơ quan chính thực hiện Quyết định này. Trong quá trình thực hiện, chất lượng Tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số đã tăng lên rõ rệt, kèm theo đó là số lượng học sinh tham gia chương trình Tiếng Việt 1 CGD cũng tăng lên hằng năm. Tuy nhiên, nhiều bất cập về các mặt quản lí và phối hợp quản lí nảy sinh . Sự bất cập này cần được giải quyết để không ảnh hưởng đến chất lượng triển khai. Đề tài Nghiên cứu phương thức triển khai TV1 CGD về địa phương và đề xuất giải pháp tối ưu trong điều kiện hiện có được đưa ra nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ GD&ĐT giao, đáp ứng nhu cầu học TV1 CGD ngày càng tăng của các địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1.

  1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu tìm ra giải pháp tối ưu cho việc triển khai TV1 CGD về địa phương trong điều kiện hiện có.
  2. 3. Nội dung nghiên cứu:
  • Nghiên cứu phương thức triển khai của các năm học 2009-2010; 2010-2011, 2011-2012.
  • Nghiên cứu kết quả triển khai ở một số địa phương điển hình.
  • Phân tích những mặt tích cực và bất cập của việc triển khai những năm qua.
  • Đề xuất giải pháp cho việc triển khai TV1 về địa phương năm học 2012-2013.
  1. Thời gian nghiên cứu: Năm 2011
  2. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, quan sát, khảo sát thực địa, phỏng vấn, phân tích, tổng hợp.
  3. Dự kiến kết quả và sản phẩm nghiên cứu: Bản đề xuất giải pháp tối ưu việc triển khai TV1 CGD về địa phương cho năm học tiếp theo.

 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ năm 1995, việc dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của Trung tâm Công nghệ Giáo dục đã triển khai hiệu quả ở 43 tỉnh thành trên toàn quốc, ở cả vùng phát triển và vùng có nhiều học sinh dân tộc thiểu số. Đến năm 2000, do Luật Giáo dục qui định một chương trình, một bộ sách giáo khoa nên việc dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của Trung tâm Công nghệ Giáo dục không được thực hiện nữa.

Năm học 2006-2007, Trung tâm Công nghệ Giáo dục thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Bộ “Hoàn thiện Công nghệ dạy Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc”, mã số B2004-51-TĐ11. Được Bộ GD&ĐT cho phép, Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai nhận làm nơi thử nghiệm cho đề tài với qui mô 4 huyện, 16 trường. Các trường đều có đông học sinh dân tộc thiểu số, có trường 100% là học sinh dân tộc thiểu số (DTTS). Sau hai năm học thực hiện có kết quả tương đối tốt, hè năm 2008, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển đã tới Lào Cai nghe trực tiếp toàn thể giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, phòng GD&ĐT, sở GD&ĐT báo cáo. Tại Hội nghị về dạy học Tiếng Việt cho học sinh DTTS tháng 8 năm 2008, Bộ GD&ĐT đã  đưa việc dạy Tiếng Việt lớp 1 theo tài liệu của Trung tâm Công nghệ giáo dục thành một trong năm phương án dạy học và tăng cường Tiếng Việt (TV) cho học sinh DTTS. Việc dạy TV lớp 1 theo tài liệu Công nghệ giáo dục hoàn toàn do các tỉnh tự nguyện lựa chọn và báo cáo để được sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ GD&ĐT. Sau năm đầu triển khai, hầu hết các tỉnh đều nhân rộng, trong đó Kiên Giang và Tây Ninh dạy cho 100% các lớp 1 của vùng DTTS, tỉnh Lào Cai thực hiện 100% lớp 1 ở cả vùng khó khăn và thuận lợi (trừ một số lớp dạy theo chương trình giáo dục song ngữ) (Theo Tài liệu về quản lý dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc theo các giải pháp của Bộ GD&ĐT, Vụ Giáo dục Tiểu học, 2011).

Dưới đây sẽ trình bày cụ thể kế hoạch triển khai, kết quả triển khai, những bài học kinh nghiệm của quá trình triển khai.

  1. 1. Kế hoạch triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục về địa phương của các năm học 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012:

1.1. Phạm vi triển khai

- Năm học 2009-2010 có 7 tỉnh tham gia bao gồm: Lào Cai, Sơn La, Quảng Bình, Kon Tum, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang. Số lượng học sinh: 13.482 em.

- Năm học 2010-2011 có 10 tỉnh tham gia bao gồm Lào Cai, Sơn La, Quảng Bình, Kon Tum, Tây Ninh, Kiên Giang, Lai Châu, Ninh Thuận, Bình Phước, Hà Giang. Số lượng học sinh: 23.464 em.

- Năm học 2011-2012 có 16 tỉnh tham gia, gồm Lào Cai, Sơn La, Quảng Bình, Kon Tum, Tây Ninh, Kiên Giang, Lai Châu, Ninh Thuận, Bình Phước, Hà Giang, Bắc cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cà Mau và Hòa Bình. Tổng số học sinh khoảng 38.600 em.

(Các số liệu trên được nhận từ báo cáo của Bộ GD&ĐT, trong Tài liệu về quản lý dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc theo các giải pháp của Bộ GD&ĐT, Vụ Giáo dục Tiểu học, 2011).

1.2. Nội dung cụ thể:

- Năm học 2009-2010, theo quyết định 4779/QĐ-BGD ĐT ngày 28/7-2009 của Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT, chỉ đạo thực hiện chương trình trên là Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học của Bộ GD&ĐT. Đơn vị thực hiện là Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Giáo dục (NCCNGD) thuộc Viện KHGD Việt Nam và các đơn vị thực hiện thí điểm dạy học Tiếng Việt 1 CGD. Phương thức thực hiện: thành lập đội ngũ Cốt cán trung ương, bao gồm các cán bộ thuộc Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ giáo dục (NCCNGD), Trường PTCS Thực nghiệm, Vụ GDTH và Viện Công nghệ Giáo dục (CGD): tổng số 15 người. Nhiệm vụ của đội ngũ này là tập huấn cho đội ngũ cốt cán địa phương và phối hợp với đội ngũ cốt cán địa phương, tập huấn cho giáo viên và cán bộ quản lý ở địa phương; tham gia hỗ trợ kĩ thuật, giám sát 2 đợt (học kì I và học kỳ II), và đo nghiệm cuối năm. Trung tâm NCCNGD chịu trách nhiệm chỉnh sửa tài liệu, Viện KHGDVN chịu trách nhiệm in ấn và cung cấp tài liệu cho địa phương.

Theo đó, Viện KHGDVN ra quyết định số 227/QĐ-VKHGDVN thành lập Ban chỉ đạo dạy thí điểm Tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục gồm có 4 người, trong đó Phó Giám đốc Trung tâm NCCNGD là Trưởng Ban. Ban này có nhiệm vụ “Hoàn thiện tài liệu sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục; Chỉ đạo thực nghiệm Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục tại các địa phương trong khuôn khổ “Dự án giáo dục Tiểu học cho các em có hoàn cảnh khó khăn” yêu cầu”.

- Năm học 2010-2011, theo quyết định số 2514/QĐ-BGD ĐT về việc ban hành Kế hoạch triển khai dạy học tài liệu Tiếng Việt 1 CGD, giao cho Vụ GDTH chủ trì việc triển khai, phối hợp với Vụ Giáo dục Dân tộc và Viện KHGDVN chỉ đạo, kiểm tra công tác dạy và học Tiếng Việt 1 CGD, tổ chức tập huấn cốt cán tại Hà Nội, tổ chức hội nghị tổng kết và cuối năm. Để giải quyết vấn đề đội ngũ cốt cán trung ương, Kế hoạch của Bộ GD&ĐT đã bổ sung thêm cán bộ từ sở GD&ĐT Lào Cai và sở GD&ĐT Kiên Giang (do 2 địa phương này đi đầu trong phong trào về số lượng và chất lượng dạy TV1 CGD) và yêu cầu các sở GD&ĐT Lào Cai và Kiên Giang thực hiện. Ngoài ra, kế hoạch của Bộ còn ghi rõ: “Viện KHGDVN cần chỉ đạo Trung tâm NCCNGD và Trường PTCSTN thực hiện các nội dung về chuyên môn: viết và chỉnh sửa tài liệu tập huấn, đo nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật, tổng kết công tác dạy học tài liệu Tiếng Việt 1 CGD. Phối hợp với Viện Công nghệ Giáo dục trong việc thực hiện các nội dung về chuyên môn nêu trên. Chịu trách nhiệm về kinh phí cho cán bộ cốt cán trung ươngvà cán bộ địa phương thuộc danh sách cốt cán trung ươngđi hỗ trợ kỹ thuật, đo nghiệm; Chịu trách nhiệm tham mưu cho Bộ GD&ĐT về các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 CGD … và chi kinh phí cho hoạt động hỗ trợ kĩ thuật, đo nghiệm”. Tuy nhiên, do quyết định ghi thiếu hoạt động tập huấn giao cho Viện KHGDVN chịu trách nhiệm về kinh phí nên ngày 6/8-2010, Bộ GD&ĐT ra tiếp quyết định 3229/QĐ-BGD ĐT có bổ sung hoạt động này. Theo đó, Ngày 24 tháng 8 năm 2010, Viện KHGDVN ra quyết định 216/QĐ-VKHGDVN nhằm thành lập Ban công tác triển khai thí điểm dạy học Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục gồm 8 cán bộ của Trung tâm NCCNGD – (Xem phụ lục). Ban này có nhiệm vụ “Xây dựng kế hoạch của Trung tâm Công nghệ Giáo dục thực hiện Quyết định số 3229/QĐ-BGDĐT và trình lãnh đạo Viện KHGDVN phê duyệt; Thực hiện kế hoạch của Trung tâm sau khi lãnh đạo phê duyệt; Đề xuất sử dụng tài liệu Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục cho năm học 2011-2012 và trình đề xuất lên Viện KHGDVN để báo cáo Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của Bộ GD&ĐT quyết định”. (Bình luận: Cái quy trình trên đưa ra đã chậm mà lại thật là dài dòng và không chú ý một chút nào tới thời gian năm học mà mọi hoạt động đều phải tuân thủ. Đến lúc đó, Ninh Thuận gửi Viện KHGDVN kế hoạch xin hỗ trợ tập huấn từ 14 tháng 7, và hỗ trợ tập huấn của các địa phương phải được tiến hành trước năm học nên việc điều phối sắp xếp lịch thế nào để không chồng chéo, đồng thời phải thông báo sớm để địa phương còn có thời gian triệu tập cán bộ giáo viên nữa).

- Năm học 2011-2012, một danh sách giảng viên và cốt cán trung ương được ban hành kèm theo quyết định số 2361/QĐ-BGD ĐT ngày 9 tháng 6 năm 2011 của Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT, bao gồm 25 người, trong đó có 7 người từ Viện KHGDVN (Trung tâm NCCNGD có 6, trường PTCSTN có 1), 3 người từ Viện CGD, 6 người từ Lào Cai, 3 người từ Kiên Giang, 2 người từ Hải Phòng, 2 người từ Hải Dương và 2 người từ Kon Tum. Phân công thực hiện như sau:

“Vụ GDTH chủ trì, phối hợp với Vụ GDDT, Viện KHGDVN chỉ đạo, kiểm tra công tác dạy học tài liệu Tiếng Việt 1 CGD; tổ chức tập huấn cốt cán trung ương; hỗ trợ kỹ thuật địa phương, kiểm tra, tổ chức hội nghị tổng kết; chịu trách nhiệm, tham mưu cho Bộ GD&ĐT về các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 CGD;

Viện KHGDVN chỉ đạo Trung tâm NCCNGD và trường PTCS Thực nghiệm thực hiện các nội dung về chuyên môn theo kế hoạch; thành lập Ban công tác Tiếng Việt 1 CGD, trong đó Trung tâm NCCNGD:

- Cử 1 lãnh đạo làm Trưởng Ban công tác; - Thực hiện các nội dung về chuyên môn: tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, tổng kết công tác dạy học tài liệu Tiếng Việt 1 CGD”.

- Các sở GD&ĐT có trách nhiệm “Chỉ đạo có hiệu quả về các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 CGD: tập huấn, tổ chức hội thảo chuyên đề cấp tỉnh, cấp huyện, kiểm tra, tổng kết; cung cấp đầy đủ và kịp thời cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tham gia”.

(Bình luận: Việc Bộ ra quyết định thành lập đội ngũ cốt cán là một bước tiến trong tổ chức, thể hiện sự cố gắng không ngừng của lãnh đạo Bộ GD&ĐT trong việc tìm kiếm giải pháp, hoàn thiện đội ngũ, đáp ứng nhu cầu học Tiếng Việt 1 CGD của xã hội. Về việc thành lập Ban công tác trong đó cử một lãnh đạo Trung tâm NCCNGD làm Trưởng Ban thì cho đến nay, 12/2011, vẫn chưa có quyết định).

1.3. Quản lý tài chính:

- Nguồn kinh phí cho các hoạt động lấy từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia, được chuyển về tài khoản của Viện KHGDVN.

(Riêng kinh phí chi cho tập huấn cốt cán năm học 2009-2010 được lấy ra từ nguồn của dự án PEDC);

- Kinh phí tập huấn giáo viên địa phương do địa phương chi từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia GD&ĐT đã giao cho địa phương.

1.4. Cơ chế Báo cáo:

Theo Kế hoạch năm học 2010-2011 và Kế hoạch năm học 2011-2012, “Sở GD&ĐT đánh giá tình hình thực hiện, báo cáo kết quả gửi về Bộ GD&ĐT (Vụ GDTH) và Trung tâm NCCNGD vào cuối học kỳ I và cuối năm học.

Trung tâm NCCNGD báo cáo tình hình sau hỗ trợ kỹ thuật, tổng hợp báo cáo, đánh giá kết quả việc thực hiện dạy học Tiếng Việt 1 CGD gửi về Bộ GD&ĐT (Vụ GDTH) vào cuối kỳ I và cuối năm học”.

(Nhận xét: Cách báo cáo này dường như là công việc thông tin trực tiếp giữa Sở, Bộ và Trung tâm NCCNGD. Viện KHGDVN không có trách nhiệm nhận những thông tin này).

  1. 2. Kết quả triển khai:

2.1. Kết quả năm học 2009-2010:

2.1.1. Thuận lợi

Chỉ đạo: Chương trình được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển và Lãnh đạo Vụ Giáo dục Tiểu học và các lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai, Kiên Giang, Kon Tum, Tây Ninh ủng hộ. PVT Nguyễn Anh Dũng cũng cương quyết trong việc phân công cán bộ Trung tâm đi công tác địa phương. Nhiều địa phương có sự phối hợp rất tốt giữa Đảng, chính quyền và nhà trường trong việc vận động gia đình cho con đi học. Kế hoạch chỉ đạo của Bộ cụ thể, phân công phân nhiệm từng bộ phận chức năng, từng việc làm theo từng thời điểm khác nhau có chỉ rõ nguồn kinh phí.

Tài liệu: Giáo sư Hồ Ngọc Đại, tác giả, chủ biên, chỉ đạo khoa học, chịu trách nhiệm cung cấp, chỉnh sửa tài liệu, chỉ đạo nhóm cộng tác viên cùng tham gia. Có đầy đủ các tài liệu (10 tài liệu) phục vụ tốt cho việc thi công cũng như quản lý thi công. Có phân phối chương trình tới từng tiết. Có sách cho học sinh, sách cho giáo viên, sách cho cán bộ quản lý. Sách trình bày logic, công phu, triệt để trung thành với lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại, phù hợp với tâm lý học sinh, đẹp, chữ to, rõ ràng, hình ảnh màu sắc hài hòa. Thiết kế mới thay thế thiết kế cũ thể hiện sự sát sao hơn với lý luận CGD, khoa học hơn, mạch lạc hơn và phù hợp hơn với quan điểm của sách giáo khoa.

Thiết kế quy trình 4 việc rất hợp lý, chi tiết, cụ thể, rõ ràng từng thao tác, thuận lợi cho giáo viên đứng lớp. Môn TV 1 xử lý vững chắc mối quan hệ cơ bản nhất: âm thanh/chữ. Từ âm thanh sang chữ: Viết. Từ chữ sang âm thanh: Đọc. Tất cả các bài học, tất cả các tiết học đều xoay quanh quan hệ âm thanh/chữ, trong đó âm thanh là vật thật, còn chữ là vật thay thế.

In ấn và cung cấp tài liệu cho các địa phương:  Thực hiện đấu thầu theo quy định hiện hành.

Tập huấn: Phương thức tập huấn được diễn ra theo mô hình lan tỏa dần như sau:

-         Giáo sư Hồ Ngọc Đại, tác giả của chương trình CGD tập huấn cốt cán trung ương.

-         Cốt cán trung ương tập huấn cốt cán địa phương.

-         Cốt cán địa phương dưới sự hỗ trợ của cốt cán trung ương, tập huấn đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý địa phương.

Năm học 2009-2010, tập huấn cốt cán trung ương còn có sự hỗ trợ của chuyên gia giáo dục Phạm Toàn.

GS. Hồ Ngọc Đại đồng thời cũng là thành viên của cốt cán trung ương.

Đội ngũ: Về quản lý, hình thành một mạng lưới triển khai, từ lãnh đạo cấp Bộ tới cấp Sở, cấp Phòng và Trường. Về chuyên môn, một đội ngũ liên kết giữa cốt cán trung ương và đội ngũ cốt cán địa phương bắt đầu hình thành. Quá trình triển khai được GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại rất quan tâm và chỉ đạo sát sao về chuyên môn. GS. Hồ Ngọc Đại đi tập huấn cho từng địa phương, động viên và hỗ trợ kỹ thuật cho hầu hết các tỉnh triển khai. Ngoài đội ngũ cốt cán ra, việc triển khai còn được một số cán bộ tại Trung tâm CNGD ủng hộ, tham gia đi giám sát và đo nghiệm cuối năm. Giáo viên nhiều địa phương rất nhiệt tình, tận tâm, dạy thêm buổi tự nguyện, không có phụ cấp.

Hỗ trợ kỹ thuật và giám sát, đo nghiệm:

Cốt cán trung ương phối hợp với cốt cán địa phương đi hỗ trợ kỹ thuật. Có hai đợt hỗ trợ kỹ thuật: Hỗ trợ đầu học kỳ I và hỗ trợ giữa học kỳ II. Chỉ đạo thời gian hỗ trợ như vậy là hợp lý vì khoảng thời gian cho chương trình đi hỗ trợ là những lúc khó khăn với giáo viên khi lần đầu tiên dạy theo chương trình CGD, rất cần được giúp đỡ kịp thời. Tuy nhiên, chỉ những địa phương năm đầu tiên triển khai hoặc địa phương nào dạy năm thứ hai có nhu cầu thực sự và chủ động yêu cầu thì Viện KHGDVN hay Vụ GDTH mới cử người đi hỗ trợ. Đây cũng là một cách làm hợp lý và tiết kiệm sức người, sức của.

Có hai đợt đo nghiệm. Đo nghiệm kết quả sau 18 tuần (hết học kỳ I) được thực hiện bằng đề của Trung tâm NCCNGD đưa ra, địa phương chủ động thực hiện và viết báo cáo kết quả. Đo nghiệm sau 35 tuần (cuối năm học) được thực hiện theo đề của Trung tâm NCCNGD, do địa phương chủ động và Nhóm chuyên gia CGD thực hiện độc lập theo chuẩn yêu cầu của chương trình Tiếng Việt 1 CGD và viết báo cáo kết quả.

Tổng hợp đánh giá của giáo viên: Học hết lớp Một, nghe bất cứ tiếng nào, nếu nhắc lại đúng thì học sinh biết phân tích cấu trúc ngữ âm của tiếng, gồm có thanh và các đơn vị cấu thành nhỏ nhất là các âm vị, rồi dùng chữ ghi lại tiếng ấy. Học TV1 CGD học sinh nắm rất chắc hệ thống kiến thức ngữ âm tiếng Việt (nguyên âm, phụ âm, phân biệt tiếng giống nhau, tiếng khác nhau, âm tròn môi và âm không tròn môi, làm tròn môi những âm không tròn môi... ); nắm chắc luật chính tả âm [c ]; luật chính tả e, ê, i; luật chính tả viết đúng phụ âm đầu (l/n; s/x; r/d/gi; tr/ch).

Quá trình chiếm lĩnh khái niệm và hình thành các kỹ năng Nghe – Nói - Đọc - Viết tương ứng được thực hiện thông qua một hệ thống Việc làm khoa học, hợp lý, lôgíc. Hệ thống đó bao gồm 4 việc liên kết chặt chẽ theo tuyến tính. Sản phẩm chung của Việc học TV1 CGD vừa là cách làm, vừa là kỹ năng Nghe – Nói - Đọc Viết Tiếng Việt.

Học TV1 CGD học sinh thích học, tích cực hoạt động trong giờ học. Giáo viên dễ tổ chức giờ học theo quy trình mẫu.

2.1.2. Khó khăn

Kinh phí: Kinh phí đi hỗ trợ kỹ thuật, đo nghiệm rất hạn hẹp. Chỉ có công tác phí, không có kinh phí phô tô tài liệu, giảng bài, lập bài đo, đo nghiệm, xử lý số liệu, quản lý phí... Cán bộ đi công tác vào các địa bàn vùng núi, vùng sâu, vùng xa rất vất vả nhưng không được chi phí đầy đủ, không động viên được đội ngũ cốt cán.

Đội ngũ: Đội ngũ cốt cán trung ương có 15 người nhưng trên thực tế chỉ có 6 người làm việc. Có 4 đợt công tác nhưng ở trên 7 địa bàn tỉnh khác nhau nên bị áp lực lớn về nhân sự. Hơn nữa, trong số này còn có người chưa hiểu hết bản chất của việc dạy theo 4 việc theo thiết kế mới của GS. Hồ Ngọc Đại nên còn lúng túng khi đứng lớp. Cốt cán của Viện CGD không được cấp công tác phí đi hỗ trợ kỹ thuật và đo nghiệm nên không thể tham gia. Cốt cán của Trung tâm NCCNGD có 2 người con quá nhỏ nên được ưu tiên không đi hỗ trợ kỹ thuật giữa kỳ 1 và kỳ 2. Cốt cán của trường PTCS Thực nghiệm không đi được vì đang tham gia giảng dạy, lãnh đạo trường không cho đi. Tinh thần làm việc của đội ngũ cốt cán Trung tâm NCCNGD cũng bị ảnh hưởng do chưa thống nhất trong chỉ đạo tại Trung tâm. Một số cán bộ chủ chốt của Trung tâm còn coi việc triển khai này là làm dịch vụ cho Viện CGD, do vậy tinh thần làm việc của cán bộ cốt cán có lúc bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Địa bàn triển khai: đây là đề án triển khai cho học sinh dân tộc thiểu số ở các vùng khó khăn nên việc tiếp cận địa bàn nhiều nơi rất vất vả. Có những nơi khi đi hỗ trợ kỹ thuật, cốt cán trung ươngphải quay về giữa chừng vì đường đi xa xôi, nguy hiểm (Thượng Trạch và Tân Trạch, Quảng Bình). Có những điểm trường chỉ có thể đi bằng xe máy, sau đó đi bộ khá xa mới đến được. Đời sống của người dân ở những địa bàn này rất khó khăn. Có những em đi học cả ngày chỉ mang theo một nắm cơm trong bọc nilon, không có thức ăn hoặc thức ăn chỉ là muối ớt. Quần áo thậm chí còn rách và không biết cách chăm sóc tự vệ sinh.

Về Tài liệu: Vở tập viết in chậm, giữa tháng 11 các địa phương mới nhận được vở tập viết, ảnh hưởng trực tiếp với việc luyện kỹ năng viết của học sinh (Ở An Giang, tuần lễ thực học đầu tiên bắt đầu từ tháng 8). Thiết kế quyển 3 lúc đầu dự tính không cần làm, sau do giáo viên yêu cầu nên phải chạy tiến độ, rất vất vả. Hơn nữa, khi chuyển tài liệu về địa phương, có Sở GD&ĐT không chuyển cho các Phòng giáo dục và do vậy cả năm hoc sinh không có vở tập viết. Đến thời điểm đo nghiệm cuối năm, đoàn cán bộ cốt cán của Trung tâm báo cáo học sinh của Thượng Trạch và Tân Trạch (Quảng Bình) vẫn chưa có vở tập viết, và giáo viên chưa nhận được thiết kế quyển 3.

Về sách giáo khoa, một số mô hình Tiếng in ấn chưa chính xác. Về sách thiết kế, một số tiết thiết kế còn dài, một số tiết không theo chuẩn quy trình chung do GS. Hồ Ngọc Đại đưa ra.

Về học sinh và giáo viên: Là học sinh dân tộc thiểu số, hầu như chưa biết nghe nói tiếng Việt. Quá trình học bị chuyển di tiêu cực phát âm từ tiếng mẹ đẻ rất nhiều. Hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Đời sống kinh tế, văn hóa hết sức nghèo nàn, lạc hậu.

Quảng Bình năm đầu thực hiện chương trình TV 1 CGD nên giáo viên còn nhiều lúng túng, bỡ ngỡ. Thực tế giáo viên chỉ được tập huấn trong 3 ngày đầu năm học. Nhóm hỗ trợ kỹ thuật không vào được đến những điểm trường xa, chỉ đến được trường Tiểu học Ba Rền. Trường Ba Rền chỉ có 9 em, nhưng có 2 em quá non. Theo đánh giá của cốt cán Trung tâm CNGD, các em này có thể bị nhầm tuổi đi học.

Học sinh phần lớn là dân tộc Vân Kiều, Ma Coong, A Rem, đời sống hết sức nghèo nàn, lạc hậu. HS đi học lại không đều. GV thường phải đến tận nhà để đưa các em tới trường. Phần lớn các trường đều ở vùng sâu, vùng xa, giao thông và liên lạc bằng các phương tiên như điện thoại, internet rất khó khăn, chỉ đạo cũng gặp khó khăn. Trường Thượng Trạch cách trung tâm Bố trạch 70 km, đi toàn đường rừng núi, có 19 điểm trường lẻ. Phần lớn các lớp đều là lớp ghép, các lớp ghép lại cách xa nhau, mỗi lớp có từ 2 đến 3 trình độ, mà học môn TV 1 CGD hoạt động rất sôi nổi, nhóm lớp khác khó tập trung làm việc.

An Giang: Vì năm học bắt đầu từ tháng 8, sách và thiết kế thời điểm này chưa chuyển về địa phương, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dạy – học của cả thầy và trò. SGK và sách GV về chậm hơn 1 tháng, vở tập viết còn muộn hơn, chỉ về vào cuối học kì. Một số trẻ có sức khoẻ yếu hoặc thể trạng không bình thường, chậm nhận biết mặt chữ, hay quên, đi học không đều lại thường vắng vào buổi chiều. Tuyệt đại đa số học sinh dân tộc Khơ me (trên 85%), sống co cụm trong cộng đồng của mình, phần lớn chỉ nói tiếng mẹ đẻ cho đến khi đi học. Nhiều trẻ đến lớp thiếu dụng cụ học tập như vở, bảng con, bút chì, phấn viết... Giáo viên cũng là người dân tộc, phát âm tiếng Việt không chuẩn, nhất là về dấu thanh.

Tây Ninh:Do đặc thù của chương trình, thời gian đầu năm học, nhiều phụ huynh còn băn khoăn về phương pháp giảng dạy. Họ quan tâm rèn thêm cho con nhưng không đúng với phương pháp ở trường nên gây thêm khó khăn cho giáo viên. Quy trình tiết học được điều chỉnh cơ bản so với thiết kế 2008-2009 nên lúc đầu giáo viên đã dạy thiết kế cũ còn lúng túng. Phần lớn học sinh tham gia học thí điểm ở vùng sâu, vùng xa, đời sống dân còn nhiều khó khăn, học sinh thường xuyên nghỉ học để phụ giúp gia đình nên không theo kịp chương trình. Cơ sở vật chất một số trường đã xuống cấp, bàn ghế bố trí chưa phù hợp với tầm vóc của học sinh, có nhiều lớp sử dụng bàn 4 chỗ ngồi nên giáo viên gặp khó khăn trong tổ chức tiết dạy. Có 23/54 lớp học 1 buổi/ngày nên thời gian luyện tập hạn chế.

2.1.3. Kết quả

Kết quả đo nghiệm cuối năm:

Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, việc đánh giá kết quả đối với môn tiếng Việt 1 Công nghệ Giáo dục của học sinh do các Sở GD&ĐT thực hiện theo chuẩn kiến thức kỹ năng chung như với chương trình đại trà . Vụ Giáo dục Tiểu học, Trung tâm NC NGD sẽ trực tiếp đo nghiệm tại một số trường của địa phương theo đề riêng của Trung tâm. Mỗi tỉnh chọn ít nhất 4 trường tại 2 huyện khác nhau để Trung tâm đo nghiệm. Đối với các tỉnh đã triển khai năm thứ 2 sẽ chọn 1 huyện mới và 1 huyện cũ.

Nhận xét chung về bài đo của Trung tâm NCCNGD: Chuẩn kiến thức và kỹ năng của Trung tâm NCCNGD xây dựng là Đọc tối thiểu 50 tiếng /1 phút, Nghe - Viết 42 chữ /15 phút. Theo đánh giá của Lào Cai, so với chuẩn chung của Bộ thì yêu cầu của Trung tâm NCCNGD gần tương đương với học sinh lớp 2 chương trình đại trà (Theo báo cáo đánh giá kết quả triển khai nhân rộng chương trình TV1 CGD trình bày tại Hội nghị 24/5-2010 tai Lào Cai). Ngoài việc đo kỹ năng Đọc, Nghe - Viết, bài đo còn đo năng lực phân tích ngữ âm, học sinh tự đọc 2 câu thơ, tách lời thành tiếng, tách tiếng thành các phần, đưa vào mô hình tiếng các kiểu vần đã học, nhận diện nguyên âm đôi trong tiếng.

Số lượng đo nghiệm của Trung tâm NCCNGD:

Lào Cai: đo nghiệm đươc 94 HS/tổng số 4422 HS

Kon Tum: 123 HS/ 1676 HS

Kiên Giang: 89 HS/ 5161 HS

Tây Ninh: 170 HS/ 1286 HS

An Giang: 240 HS/ 592 HS

Sơn La: 117 HS/ 241 HS

Quảng Bình: Không đo nghiệm được theo đề chung vì các trường chưa học xong tuần 35 (Thượng Trạch mới đến tuần 26, Tân Trạch mới đến tuần 33).


Bảng 1: Kết quả đo nghiêm cuối năm theo chuẩn của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ giáo dục

Tỉnh

Số lượng HS đo

 

Kiến thức ngữ âm

 

Kĩ năng viết

 

K ĩ  n ăng đ ọc

 

Giỏi

 

Khá

 

TB

 

Yếu

 

Giỏi

 

Khá

 

TB

 

Yếu

 

Giỏi

 

Khá

 

TB

 

Yếu

Tây Ninh

170

59

44

23

44

19

81

48

22

41

49

54

26

Tỷ lệ %

100

34,71

25,88

13,53

25,88

11,18

47,65

28,23

12,94

24,12

28,82

31,77

15,29

Kiên Giang

89

37

27

17

8

19

30

14

26

30

28

18

13

Tỷ lệ %

100

 

41,6

 

 

30,4

 

19

 

9

21.3

33,7

15,7

29,2

 

33,7

 

31,5

 

20,2

 

14,6

Lào Cai

94

45

15

12

22

43

50

1

32

43

15

4

Tỷ lệ %

100

47,87

15,95

 

12,76

 

23,40

 

45,74

53, 19

1,06

34,04

 

45,74

 

 

15,95

 

4,25

 

An Giang

240

97

53

40

50

16

65

89

70

52

102

45

41

Tỷ lệ %

100%

 

40,4

 

 

22,1

 

16,7

 

20,8

6,7

27

37,1

29,2

 

21,7

 

42,5

 

18,8

 

17

Sơn La

117

38

24

20

35

26

48

26

17

34

42

30

11

Tỷ lệ %

100

32,47

20,51

17,09

 

29,91

22,22

41,02

22,22

14,52

29,05

35,89

25,64

9,40

Kon Tum

123

32

20

22

49

45

57

17

4

32

31

41

19

Tỷ lệ %

100

26,02

16,26

17,88

39,84

36,59

46,34

13,82

3,25

26,02

25,20

33,33

15,45

Quảng Bình

Không đo theo đề

 

Bảng 2: Địa phương đo nghiệm theo chuẩn của tỉnh

TT

Thứ tự

Tổng số HS

Xếp loại

Giỏi

Khá

Trung Bình

Yếu

TS

TØ lÖ

TS

TØ lÖ

TS

TØ lÖ

TS

TØ lÖ

1

Lào Cai

4,422

1,236

27.95

1,626

36.77

1,480

33.47

80

1.81

2

Tây Ninh

1,286

433

33.67

400

31.10

375

29,1

78

6,07

3

Kon Tum

1,676

290

17.30

498

29.71

714

42.60

174

10.38

4

Sơn La

241

63

26.14

84

34.85

78

32.37

16

6.64

5

Quảng Bình

104

3

2.88

19

18.27

79

75.96

3

2.88

6

An Giang

592

 

29.7

 

38.5

 

21

62

10.8

7

Kiên Giang

5,161

1,414

27.40

1,897

36.76

1,347

26.10

503

9.75

Tỷ lệ

13,482

3,439

25.51

4,524

33.56

4,073

30.21

916

6.79


Phân tích kết quả đo nghiệm của Trung tâm NCCNGD:

Trung tâm đo nghiệm được 6 tỉnh. Riêng Quảng Bình, không đo được theo bài đo chung vì có trường mới học đến tuần 26. Số liệu đo nghiệm mẫu của Trung tâm NCCNGD chỉ là một phần nhỏ so với tổng số học sinh  thực học (833 HS / 13482 HS, xấp xỉ 6.2%), do vậy, số liệu của Trung tâm chưa thể làm căn cứ để khẳng định kết quả chuẩn xác của việc triển khai.

Trung tâm NCCNGD đo theo 3 số liệu: kiến thức ngữ âm, kỹ năng viết, kỹ năng đọc. Địa phương đo nghiệm và báo cáo số liệu tổng hợp, do vậy không thể so sánh hai số liệu này với nhau. Chỉ riêng Lào Cai đo cả 4 kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết và có số liệu tổng hợp.

Nhìn chung, kết quả đo nghiệm học sinh yếu của Trung tâm NCCNGD cao hơn so với kết quả đo của  địa phương do chuẩn của Trung tâm cao hơn chuẩn của địa phương.

Theo kết quả đánh giá của Trung tâm, tỷ lệ trung bình của các địa phương về kiến thức ngữ âm khoảng 59% đạt loại khá, giỏi. Kỹ năng viết cũng tương đối tốt. Riêng Lào Cai không có học sinh yếu, tỷ lệ giỏi là 45.74%, tỷ lệ khá là 53, 19%, chỉ có 1.06% trung bình. Kỹ năng viết của Kon Tum tỷ lệ khá giỏi cũng rất cao, chiếm tới 82.93%. Về kỹ năng đọc, Kiên giang có tỷ lệ khá, giỏi là 65.2%, Lào Cai có tỷ lệ khá giỏi khá cao, 79.79%, và chỉ có 4,25% là tỷ lệ yếu. Sơn La cũng có tới 64.94% kỹ năng đọc đạt tỷ lệ khá, giỏi. An Giang cũng đạt 64.2% kỹ năng đọc loại khá giỏi. Học sinh trường B Châu Lăng ở huyện Tri tôn, An Giang học rất tốt, tỷ lệ khá giỏi cao ở cả 3 bài đo nghiệm và không có học sinh yếu. Ở Kiên Giang có 13 em đọc đúng với tốc độ 1 phút/72 tiếng. Ở Tây Ninh có HS đọc 72 tiếng chỉ 55 giây. Sơn La có em chỉ đọc 50 giây. Trường Chiềng Chăn 1 và Chiềng Sung 1 Sơn La đa số viết đúng chính tả, đảm bảo tốc độ. Ở Lào Cai có em dân tộc Hà Nhì ở trường tiểu học Bản Trung được cả 3 điểm 10, và trường Số 1 Phú Nhuận có em chỉ đọc 40 giây.

Tuy nhiên vẫn có những trường hợp đọc và viết rất chậm. Hiện tượng nhầm thanh có ở nhiều học sinh như nhầm thanh sắc – thanh huyền, thanh hỏi – thanh ngã, thanh ngang – thanh huyền ở Tây Ninh, An Giang và Kiên Giang. Nhầm thanh ngã – thanh sắc (dãy – dáy), âm đ thành l (đàn bò – làn bò), âm v thành b, âm th thành s ở Sơn La.

Theo đánh giá của cốt cán Trung ương, những nơi kết quả tốt đều có nguyên nhân từ các phía như sự phù hợp của sách và thiết kế, sự lãnh đạo sát sao của Sở, Phòng và Trường, sự tâm huyết nghiên cứu theo sát thiết kế của giáo viên, sự phối kết hợp chặt chẽ của gia đình trong việc cho con đi học chuyên cần. Những nơi kết quả chưa cao còn có các nguyên nhân khác như chưa hiểu hết ý đồ của sách và thiết kế, sách và thiết kế chậm so với năm học, giáo viên dạy TV1 CGD luân chuyển nên phải bổ sung giáo viên chưa được tập huấn thay thế (Sơn La), có một số học sinh khuyết tật, giáo viên năm đầu làm quen với chương trình CGD (tuy nhiên, cũng phải thấy được, có một số giáo viên dạy năm đầu tiên lại tốt hơn nhiều một số giáo viên dạy năm thứ 2 như ở Lào Cai, Kon Tum, Kiên Giang và Sơn La),...

Phân tích kết quả đo nghiệm của địa phương:

Theo báo cáo của địa phương, kết qủa học TV1 CGD được xếp theo 4 loại: giỏi, khá, trung bình, yếu. Những tỉnh có tỷ lệ giỏi cao là Lào Cai, Tây Ninh, Sơn La, An Giang và Kiên Giang  (trên 26%). Những tỉnh có tỷ lệ yếu thấp là Lào Cai (1.81%), Quảng Bình (2.88%).Quảng Bình báo cáo một số liệu rất khả quan: trường Thượng trạch (80 HS) với 19 lớp ghép nhưng không có học sinh yếu. Quảng Bình cũng đưa ra số liệu so sánh với năm học 2008-2009, khi chưa triển khai chương trình này, Thượng Trạch có 30 HS loại yếu, chiếm khoảng 21,4%. Theo báo cáo, tỷ lệ yếu trung bình của cả 7 tỉnh triển khai năm học 2009-2010 chỉ có 6.79%. Các địa phương đều khẳng định chương trình CGD được thiết kế bằng một hệ thống việc làm rất phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số, dễ dạy với giáo viên vùng khó và phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Lúc đầu mới dạy thì giáo viên có lo lắng nhưng sau 3 tuần thì bắt đầu quen với kỹ thuật CGD và kết thúc năm học thì mong muốn được tiếp tục dạy theo chương trình này. Học sinh học hết lớp 1 sang lớp 2 học chương trình đại trà rất tốt do đọc thông viết thạo và không học vẹt nên không thể tái mù sau kỳ nghỉ hè. Hơn nữa, học chương trình này học sinh lại mạnh dạn, tự tin, không nhút nhát khi học tập cũng như khi tham gia các hoạt động. Một số báo cáo của địa phương so sánh với kết quả khi học chương trình đại trà và đưa ra những số liệu khả quan hơn đại trà như Lào Cai, An Giang, Quảng Bình và Kon Tum. Thực tế với điều kiện của học sinh dân tộc thiểu số và khó khăn, nếu số liệu ngang với kết quả của học sinh vùng khác thì cũng là thành công. Kiên Giang thực hiện năm thứ hai chương trình CGD và  khẳng định chương trình đã mang lại hiệu quả thiết thực cho học sinh, đặc biệt học sinh dân tộc và vùng khó. Đến cuối năm học, tốc độ đọc của học sinh có bước đột phá rõ rệt, và sang năm thứ 2, khi đã quen hơn, mặc dù triển khai rộng hơn năm thứ nhất nhiều nhưng tỷ lệ học sinh yếu năm nay giảm hơn so với năm trước 1.71%.

2.2. Kết quả triển khai năm học 2010-2011:

2.2.1. Kết quả các hoạt động theo chỉ đạo

Như trên đã trình bày, để giải quyết vấn đề đội ngũ cốt cán trung ương, Bộ đã bổ sung thêm cán bộ từ sở GD&ĐT Lào Cai và sở GD&ĐT Kiên Giang. Tuy nhiên, cho đến hết năm học, vẫn không có danh sách đội ngũ cốt cán bổ sung và vì vậy, họ không tham gia một hoạt động nào của cốt cán trung ương trong năm học 2010-2011. Ngoài ra, kế hoạch của Bộ còn ghi rõ: “Viện KHGDVN cần chỉ đạo Trung tâm NCCNGD và Trường PTCSTN thực hiện các nội dung về chuyên môn: viết và chỉnh sửa tài liệu tập huấn, đo nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật, tổng kết công tác dạy học tài liệu Tiếng Việt 1 CGD. Phối hợp với Viện Công nghệ Giáo dục trong việc thực hiện các nội dung về chuyên môn nêu trên. Chịu trách nhiệm về kinh phí cho cán bộ cốt cán trung ươngvà cán bộ địa phương thuộc danh sách cốt cán trung ươngđi hỗ trợ kỹ thuật, đo nghiệm; Chịu trách nhiệm tham mưu cho Bộ GD&ĐT về các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 CGD”.

Tuy nhiên, đi công tác địa phương thực chất vẫn chỉ là 6 cán bộ của Trung tâm NCCNGD. Viện Công nghệ Giáo dục không được cấp kinh phí như năm học trước. Không có một cuộc họp nào hay công văn nào thể hiện sự phối hợp với Viện KHGDVN với Viện Công nghệ Giáo dục. Hơn nữa, việc chậm được tạm ứng kinh phí đã gây nhiều khó khăn cho việc triển khai. Cho đến giờ ra sân bay đi công tác, lãnh đạo Viện KHGDVN phê duyệt vào tờ trình yêu cầu cán bộ tự bỏ tiền cá nhân rồi Viện sẽ chi trả sau đã gây ra một không khí bức xúc cho cán bộ cũng như cho lãnh đạo của Viện.

Theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Quảng Bình, Bình Phước, Ninh Thuận sẽ được cốt cán TW hỗ trợ tập huấn cùng cốt cán địa phương. Một kế hoạch hỗ trợ đã được Trung tâm NCCNGD thiết kế và trao đổi cho khớp với địa phương về thời gian thực hiện. Trên thực tế, chỉ có 3 địa phương có nhu cầu mời cốt cán trung ươnglà Quảng Bình, Ninh Thuận và Bình Phước. Lai Châu và Hà Giang triển khai với số lượng không nhiều (Lai Châu 200 HS, Hà Giang 100 HS) nên đã cử hầu hết giáo viên về tập huấn tại Hà Nội, và sau đó sang Lào Cai dự giờ, rút kinh nghiệm và học hỏi kinh nghiệm của Lào Cai nên không có nhu cầu hỗ trợ tập huấn đầu năm học nữa. Quảng Bình do công văn viết không rõ ràng nên không được lãnh đao Viện KHGDVN phê duyệt. Đây là một thiệt thòi lớn cho Quảng Bình, vì khó khăn của Quảng Bình rất lớn (đã được phân tích ở trên), đáng nhẽ Quảng Bình phải được ưu tiên. Do vậy, Trung tâm CNGD chỉ đi hỗ trợ tập huấn cho 2 tỉnh Bình Phước và Ninh Thuận.

Do số lượng tham dự tập huấn đông nên Sở GD&ĐT Ninh Thuận chia thành 2 lớp tập huấn, Sở GD&ĐT Bình Phước chia thành 6 lớp tập huấn cùng một thời gian. Cán bộ Trung tâm NCCNGD cũng chia ra các nhóm để hỗ trợ đứng lớp và trả lời thắc mắc.

Đánh giá:

+       Các Sở tổ chức tập huấn nghiêm túc, thực chất, không hình thức.

+       Cán bộ giáo viên làm việc rất tích cực. Lãnh đạo Sở quyết tâm thực hiện chương trình, chỉ đạo giáo viên làm việc nghiêm túc, hiệu quả.

+       Cán bộ cốt cán địa phương khá chắc tay

+       Nhiều thắc mắc của giáo viên đã được giải đáp.

+       Nội dung tập huấn phù hợp với nhu cầu của giáo viên, thiết thực với việc triển khai.

+ Lớp tập huấn đã hoàn thành được mục tiêu đề ra.

Tuy nhiên thời gian tập huấn còn ít (Bình Phước) và lớp tập huấn quá đông nên cũng hạn chế kết quả tập huấn.

Hỗ trợ kĩ thuật, giám sát

-         Mục đích:

+       Nắm bắt được những khó khăn ngay tại thời điểm bắt đầu dạy theo chương trình TV1 CGD của địa phương.

+       Tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, đặc biệt là về mặt chuyên môn.

+       Củng cố kiến thức và phương pháp giảng dạy cho giáo viên.

-         Nội dung:

+       Dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm về tiết dạy nói riêng, tổng kết về quy trình dạy học môn TV1 CGD nói chung.

+       Thảo luận, lắng nghe ý kiến của GV về SGK, thiết kế, tổ chức.

+       Tập huấn củng cố kiến thức kĩ năng và nâng cao nghiệp vụ sư phạm.

-         Đối tượng hỗ trợ kỹ thuật: Sở GD&ĐT Hà Giang, Lai Châu, Quảng Bình, Bình Phước, Ninh Thuận và các Sở gặp khó khăn trong quá trình triển khai

-         Thời gian hỗ trợ: Đầu học kỳ I (cuối tháng 9/2010) và đầu học kì II (tháng 1-2/2011).

Học kì I, Quảng Bình bị bão lụt triền miên trong tháng 10 và tháng 11/2010, không thể tiếp cận được các trường vùng sâu nên kế hoạch hỗ trợ kĩ thuật đầu học kì I không thực hiện được (lại một thiệt thòi nữa đến với Bố Trạch, Quảng Bình). Các Sở đã triển khai những năm trước không thấy phản ánh khó khăn, do vậy  đoàn chỉ hỗ trợ kỹ thuật 4 tỉnh là Hà Giang, Lai Châu, Bình Phước và Ninh Thuận. Kinh phí đến thời điểm phải đi hỗ trợ (cuối tháng 9/2010) không được duyệt nên kế hoạch thực hiện bị chậm, phải đến cuối tháng 10/2010 và hai tuần đầu tháng 11/2010 mới hoàn thành việc hỗ trợ kĩ thuật kì I.

Hỗ trợ kĩ thuật học kì II cũng phải đến cuối tháng 4/2011 mới được thực hiện cũng do vấn đề kinh phí. Hà Giang do triển khai không nhiều, học hỏi trực tiếp Lào Cai, kết quả khá chắc chắn nên không có nhu cầu hỗ trợ. Lai Châu thì lúc đó là thời điểm cuối tháng 4 rồi nên họ cũng không có nhu cầu hỗ trợ kĩ thuật nữa. Kì II, đoàn cốt cán trung ươngđã đi 3 tỉnh là Quảng Bình, Bình Phước và Ninh Thuận.

Đoàn hỗ trợ kỹ thuật làm việc với lãnh đạo các Sở GD&ĐT, trao đổi tình hình chung và sau đó đi về từng huyện. Cốt cán của Sở GD&ĐT và của Phòng GD&ĐT đi cùng. Mỗi huyện dự từ 2 đến 4 tiết. Thông thường các huyện bố trí dự giờ cả lớp khá và lớp yếu để thấy rõ nguyên nhân tại sao lại khá hay yếu. Toàn bộ cán bộ quản lý các trường, giáo viên dạy trực tiếp của huyện đều tham gia dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy và góp ý về SGK, thiết kế và phương pháp quản lý.

+       Bình Phước: dự được 29 tiết và 12 buổi trao đổi, tập huấn.

+       Ninh Thuận: dự được 14 tiết và 8 buổi trao đổi, tập huấn.

+       Lai Châu: dự được 8 tiết và 2 buổi trao đổi, tập huấn.

+       Hà Giang: dự được 2 tiết và 2 buổi trao đổi, tập huấn.

+       Quảng Bình: dự được 2 giờ và 01 buổi trao đổi tình hình và giải đáp thắc mắc.

Đánh giá chung về các giờ lên lớp:

Có 4 mức độ: làm được – làm đúng – làm đẹp – làm nhanh. Làm được là biết làm nhưng hầu hết chưa đẹp, chưa nhanh. Làm đúng là biết làm, có em làm đẹp nhưng chưa đẹp đều cả lớp. Làm đẹp là phải cả lớp làm đúng, làm đẹp, Giáo viên phải rõ việc và HS cũng phải rõ việc. Làm nhanh là phải vừa đúng, vừa đẹp, vừa nhanh theo tốc độ quy định (VD, đọc 60 tiếng/phút).

Các giờ dự đều đạt ở mức làm được và làm đúng.

Nhận xét chung: Các tiết học nói chung tốt. Cô giáo thao tác nhịp nhàng. HS làm được nhưng chưa đều. Việc 1, 2 rất tốt. HS biết nhận nhiệm vụ và thực hiện tốt nhiệm vụ cô yêu cầu. Nắm vững các thao tác trong tiết học và thực hành thuần thục hệ thống thao tác đó. HS nắm được luật chính tả. Nắm được kiến thức ngữ âm: nguyên âm, phụ âm, biết cách làm tròn môi các nguyên âm không tròn môi, biết thay âm để tạo thành vần mới. Biết phân tích tiếng, vẽ mô hình tiếng, tìm tiếng mới nhanh, viết bảng con nhanh, tốt. HS nắm được các kiểu vần, biết cách phân tích vần. HS đọc trơn tốt các tiếng, các từ đã được học. HS đã biết nghe - viết đúng chính tả, có HS viết khá nhanh, nhiều học sinh viết rất đẹp. Có những lớp (VD, ở trường Lộc Quang, Lộc Ninh, Bình Phước) có thể làm tiết mẫu quay camera. Một số giáo viên thực hiện rất tốt như cô Triều ở Bình Phước, cô Huyền ở Hà Giang.

Tuy nhiên, một số lớp, việc 2 cô không viết mẫu, không hướng dẫn cụ thể nên chữ viết của học sinh không đẹp. Một số học sinh không đánh vần được tiếng có thanh. Một số giáo viên không quản lý được việc Đọc. Có giáo viên đều chưa dứt khoát chuyển sang phương pháp CGD nên khi đánh vần vẫn theo phương pháp đại trà. Trong cặp sách của học sinh có cả sách Tiếng Việt của chương trình đại trà. Có giáo viên còn lúng túng về ngữ âm học và luật chính tả.Có trường không tuân thủ theo đúng thiết kế, bỏ dạy 2 tuần 0.

2.2.2. Kết quả học tập của học sinh

Trong kế hoạch năm học của Bộ GD&ĐT có hoạt động đo nghiệm cuối năm của cốt cán trung ương, nhưng rất tiếc hoạt động này không được thực hiện vì không có kinh phí. Kinh phí được thiết kế không theo năm học, mà theo năm tài chính nên không có nguồn từ trước. Để đáp ứng nhu cầu của địa phương, Ban công tác đã thiết kế bài đo cuối năm và chuyển Vụ GDTH. Trên cơ sở bài đo, Vụ đã điều chỉnh cho phù hợp chuẩn chung và gửi về các địa phương.

Theo báo cáo tổng hợp của Vụ GDTH và của các địa phương, tổng số học sinh theo học chương trình TV1 CGD là 23.464 em, trong đó Lào Cai có số học sinh đông nhất là 8484 em (dạy năm thứ 4), đông thứ hai là Kiên Giang với 5430 em (dạy năm thứ ba), đông thứ ba là Bình Phước 5150 em (dạy năm thứ nhất).

Bảng 1. TỔNG HỢP KẾT QUẢ THEO CHUẨN CỦA BỘ GD&ĐT NĂM HỌC 2010-2011

Số thứ tự

Tỉnh

Tổng số

HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

1

Lào Cai

8484

2632

31%

3118

36,8%

2585

30,4

149

1,8%

2

Hà Giang

95

53

55.8

22

23.2

19

20.0

1

1.05

3

Lai Châu

158

61

38.6

64

40.5

29

18.4

4

2.5

4

Sơn La

513

155

30.2

183

35.7

151

29.4

24

4.7

5

Quảng Bình

82

2

2.44

14

17.1

63

76.8

3

3.66

6

Kon Tum

2057

457

22.2

676

32.9

757

36.8

167

8.1

7

Bình Phước

5015

1583

31.57

1277

25.46

1251

24.95

904

18.03

8

Ninh Thuận

1183

302

25.55

353

29.9

308

26.05

220

18.6

9

Tây Ninh

1496

601

40.17

457

30.55

361

24.13

77

5.15

10

Kiên Giang

5430

1866

34.36

1976

36.39

1186

21.84

402

7.4

Ghi chú: Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Giáo dục không nhận được báo cáo của  Kon Tum. Các số liệu trên được lấy từ Vụ GDTH.

Bảng 2. TỔNG HỢP KẾT QUẢ THEO CHUẨN CỦA CGD NĂM HỌC 2010-2011

 

Số thứ tự

Tỉnh

Tổng số

HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

Tổng số

Tỉ lệ %

1

Lào Cai

8484

2487

29%

2865

34%

2962

35%

170

2%

2

Hà Giang

95

53

55.8

22

23.2

19

20.0

1

1.05

3

Lai Châu

158

84

53,2

55

34,8

15

9,5

4

2,5

4

Sơn La

513

157

30.6

163

31.8

167

32.6

26

5.1

5

Quảng Bình

82

2

2.44

14

17.1

63

76.8

3

3.66

6

Kon Tum

2057

427

20.8

668

32.5

779

37.9

183

8.9

7

Bình Phước

5015

1486

29.6

1435

28.6

1176

23.5

918

18.3

8

Ninh Thuận

1183

323

27.35

320

27.1

304

25.7

236

19.9

9

Tây Ninh

1496

592

39.57

505

33.76

327

21.86

72

4.18

10

Kiên Giang

5430

1899

34.97

1958

36.05

1190

21.91

383

7.05

Đánh giá chung:

Chuẩn của CGD có phần cao hơn vì thêm phần kiến thức ngữ âm. So sánh kết quả của hai bảng, theo chuẩn của CGD tỉ lệ yếu cao hơn từ 0.2 đến 1.3% (trừ các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Quảng Bình kết quả tỉ lệ học sinh yếu ở hai bảng như nhau). Tuy nhiên, tỉ lệ giỏi cũng cao hơn so với chuẩn của Bộ GD&ĐT. Điều này chứng tỏ chương trình CGD có khả năng phân hóa học sinh khá rõ.

Các tỉnh triển khai năm thứ 2, thứ 3 kết quả đều tiến bộ so với năm trước (số học sinh yếu giảm từ 0,9% đến 2,37% ở các tỉnh Kon Tum, Kiên Giang, Sơn La, Tây Ninh).

Hà Giang mới triển khai năm đầu nhưng kết quả khá tốt, có 79% được xếp loại khá, giỏi. Chỉ có 1/95 học sinh bị xếp loại yếu. Tương tự như vậy số liệu cũng thể hiện ở Lai Châu với 62,4% học sinh khá, giỏi và chỉ có 2,5% học sinh yếu.

Lào Cai với số lượng học sinh tham gia nhiều nhất, nhưng chỉ có 1,8% xếp loại yếu, 67,8% xếp loại khá, giỏi (theo chuẩn của Bộ GD&ĐT). Lào Cai năm học vừa rồi đã triển khai làm mẫu nhiều tiết cho các tỉnh mới học tập.

Bình Phước triển khai năm đầu nhưng số lượng đông, có những trường triển khai rất tốt (Lộc Ninh), có những trường còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân có nhiều nhưng nơi nào làm tốt do nổi bật là tay nghề CGD của giáo viên và sự sát sao chỉ đạo của từng trường, từng phòng giáo dục huyện. Một số huyện kết quả không cho như mong muốn.

Ninh Thuận là một tỉnh học năm đầu, số lượng học yếu vẫn còn tới 18,6%, kết quả yếu giảm hơn năm trước ở chính những trường này theo chương trình 2000 khoảng 2% (chưa nhiều) nhưng hứa hẹn triển vọng ở những năm tiếp theo, khi tay nghề của giáo viên vững hơn.

Đánh giá của địa phương:

Với học sinh

-         Học chương trình tiếng Việt 1 CGD, học sinh rất hứng thú, học sinh có cảm giác học mà chơi, chơi mà học, rất tự nhiên, tự tin khi tham gia các hoạt động học tập.

-         Chương trình phát huy được khả năng tư duy của học sinh, nắm chắc cấu tạo ngữ âm của tiếng; các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết đảm bảo theo yêu cầu của chương trình. Hầu hết các học sinh đều có kĩ năng phân tích cấu tạo ngữ âm. Kĩ năng tách lời thành tiếng tốt, ít bị nhầm lẫn; tốc độ đọc nhanh (nhiều học sinh đọc 60 tiếng/phút), kĩ năng đọc tốt hơn; học sinh nắm chắc luật chính tả, có kĩ năng nghe để viết chính tả tốt, hiểu và nắm được bản chất của vấn đề.

-          Tiến trình giờ dạy nhẹ nhàng, dễ thực hiện, học sinh được thực hành các kĩ năng nhiều.

-         Nề nếp học tập của học sinh được hình thành ngay từ đầu năm học vì 2 tuần đầu (tuần 0) học sinh chỉ học các qui tắc, qui định về nề nếp hoạt động dạy và học giữa giáo viên với học sinh và được duy trì trong suốt năm học.

-         Hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh có chiều hướng tích cực hơn (các hoạt động học, bắt buộc học sinh phải tự vận động theo tập thể, quá trình vận động như vậy, học sinh bộc lộ tính tích cực).

-         Kết thúc học kỳ I, học sinh đã nắm chắc luật Chính tả, phân biệt được Phụ âm, Nguyên âm tương đối tốt làm cơ sở vững chắc để các em học tiếp sang học kỳ II.

-         Sau 35 tuần học, kết thúc lớp 1 học sinh đọc và viết Tiếng việt rất tốt, tốc độ đọc và viết nhanh (Hà Giang), với những học sinh đi học chuyên cần (một số em đã đọc, viết như học sinh lớp 2 (Lai Châu).

 

Với giáo viên:

-         Kiến thức và năng lực của giáo viên được tăng lên rõ rệt qua quá trình dạy học. Nắm vững được phương pháp và dạy học theo hướng tích cực, hình thành cho học sinh kĩ năng tự học.

-         Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian nghiên cứu thiết kế bài dạy và quy trình dạy các mẫu. Sau những bài đầu còn vướng mắc, đa số giáo viên đã hiểu bản chất của chương trình và kĩ thuật dạy học, nắm chắc quy trình của từng mẫu vần nên việc giảng dạy rất thuận lợi. Đến cuối năm, các giáo viên dạy lớp 1 đã hiểu bản chất của chương trình Công nghệ giáo dục là "Thầy thiết kế - Trò thi công", vận dụng vào dạy học linh hoạt, có sáng tạo.

2.2.3. Khó khăn và kiến nghị của địa phương:

Khó khăn:

-         Triển khai quá đông từ năm đầu tiên mà đội ngũ quản lý không giám sát được hết sẽ dẫn đến kết quả không tốt, dễ chán nản (Bình Phước).

-         Một số giáo viên năm đầu tiên dạy môn Tiếng Việt lớp 1 tài liệu Công nghệ giáo dục còn lúng túng, chưa thành thạo (Sơn La, Lai Châu, Bình Phước, Ninh Thuận);

-         Một số giáo viên chưa  thoát ly khỏi chương trình sách giáo khoa hiện hành, nhầm lẫn giữa hai chương trình nên chất lượng không cao (Ninh Thuận, Bình Phước); Có giáo viên chưa được tập huấn đã phải dạy (Quảng Bình);

-         Một số giáo viên chưa nắm chắc luật chính tả và kiến thức về ngữ âm học cũng như kĩ năng đứng lớp còn yếu (Bình Phước, Kon Tum);

-         Một số cán bộ quản lí và giáo viên thực hiện chính sách luân chuyển nên chưa được tập huấn, gặp khó khăn (Kon Tum, Tây Ninh);

-         Một số học sinh nghỉ học thường xuyên nên bỏ cách chương trình, không theo kịp (Bình Phước, Ninh Thuận, Kon Tum, Tây Ninh, Kiên Giang);

-         Một số phụ huynh còn thắc mắc về chương trình, gây khó khăn cho việc triển khai ở đầu năm (Ninh Thuận, Lai Châu);

-         Một số học sinh chưa qua lớp mẫu giáo, ra lớp muộn. Vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế, nên việc giao tiếp đầu năm giữa giáo viên và học sinh còn nhiều khó khăn (Bình Phước, Lai Châu, Quảng Bình); Do đặc điểm Học sinh dân tộc thiểu số chỉ học và nói tiếng Việt ở trường, về nhà cha mẹ ít nói hoặc không nói tiếng Việt nên một số nội dung trong Phần tự học học sinh không thực hiện được ở nhà theo yêu cầu (Lào Cai).

-         Một số học sinh chuyển đến giữa chừng, một số em là học sinh lưu ban bị ảnh hưởng của cách học cũ nên khi học theo tài liệu tiếng Việt 1 CGD gặp khó khăn (Ninh Thuận, Tây Ninh).

-         Một số gia đình quan tâm hướng dẫn con học ở nhà với cách hướng dẫn theo Chương trình sách giáo khoa 2000 nên có phần ảnh hưởng đến việc dạy- học theo tài liệu tiếng Việt 1-Công nghệ giáo dục trong nhà trường (Ninh Thuận);

-         Khó khăn vì lớp ghép (Quảng Bình có 82 em theo học thì 52 em học lớp ghép, Bình Phước cũng có một số lớp ghép);

-         Sự phối kết hợp giữa các giáo viên với nhau hạn chế vì điểm trường xa nhau (Quảng Bình).

Kiến nghị:

-         Đề nghị Bộ tiếp tục tổ chức tập huấn cho các giáo viên trực tiếp giảng dạy, cán bộ quản lý từ trường tới Sở (Lào Cai, Ninh Thuận, Lai Châu, Kon Tum, Tây Ninh, Sơn La).

-         Đề nghị tạo điều kiện cho giáo viên được giao lưu, trao đổi kinh nghiệm (Tây Ninh, Sơn La).

-         Đề nghị cung cấp băng hình dạy mẫu cho địa phương (Ninh Thuận, Bình Phước, Kon Tum, Kiên Giang).

-         Đề nghị cung cấp sách giáo khoa, thiết kế bài dạy, vở tập viết kịp thời ngay đầu năm học để giúp các địa phương chủ động tiến hành giảng dạy (Bình Phước, Sơn La, Quảng Bình).

-         Đề nghị hướng dẫn kiểm tra và đề kiểm tra cần gửi về sớm để CBQL và GV chủ động tổ chức kiểm tra định kì cho HS (Kon Tum, Sơn La).

-         Đề nghị có định hướng chỉ đạo linh hoạt cho các đơn vị, giáo viên trong việc thực hiện chương trình, vì lượng kiến thức nặng, có tiết khó hoàn thành đúng thời gian tiết học theo lượng kiến thức của chương trình (Lai Châu).

-         Một số vần ít dùng, khó đọc đề nghị có thể cắt bỏ không đưa vào chương trình dạy (Lai Châu).

-         Đề nghị chỉnh sửa những sai sót trong sách giáo khoa và sách thiết kế (Bình Phước).

-         Giảm lượng kiến thức ở từng bài học, chọn từ ngữ dễ đọc, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, tập quán và nề nếp sống đối với học sinh dân tộc thiểu số (Bình Phước).

-         Trong năm học tới Bộ nên có hướng chỉ đạo phân môn chính tả (nhìn chép) ở lớp 2 cho phù hợp với những trường tham gia dạy- học theo tài liệu tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục. Vì phân môn chính tả ở lớp 1 các em đã nghe viết nhưng lên lớp 2 các em lại quay lại nhìn chép thì không đúng với quy trình công nghệ các em đã được học (Ninh Thuận).

2.2.4. Bài học kinh nghiệm của địa phương:

Lào Cai là một tỉnh rất thành công trong việc thực hiện chương trình TV1 CGD. Bài học kinh nghiệm của Lào Cai chủ yếu nói tới vấn đề quản lí và con người. Thành công của Lào Cai là do:

“Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT quan tâm và chỉ đạo sát sao, nắm bắt tình hình thường xuyên và giải quyết kịp thời các vướng mắc tại cơ sở trong công tác chỉ đạo, và triển khai; phát huy tối đa lực lượng giáo viên cốt cán có năng lực, nhiệt tình; đồng thời phát huy sự sáng tạo của mỗi giáo viên.

Cán bộ quản lý các trường học phải sát sao trong việc dạy học của giáo viên: chỉ đạo các tổ khối xây dựng chuyên đề, thống nhất quy trình và phương pháp dạy với mỗi dạng mẫu, tổ chức dự giờ, thăm lớp để hướng dẫn và điều chỉnh nội dung, phương pháp sau mỗi giai đoạn học.

Mỗi cá nhân giáo viên phải có trách nhiệm, nhiệt tình, tâm huyết trong việc dạy học; bên cạnh việc nắm chắc, thuần thục quy trình dạy học cần kết hợp phương pháp và kĩ thuật dạy học theo CCM; áp dụng công nghệ thông tin để giờ học thêm sinh động, học sinh hứng thú, tích cực học tập, giờ học đạt hiệu quả cao.

Giáo viên phải dạy học cẩn thận, hướng dẫn tỉ mỉ, dạy đến đâu phải kiểm tra thật chắc đến đó, nếu học sinh chưa đạt yêu cầu phải dạy lại cho thật chắc rồi mới chuyển sang dạng bài khác.

Tổ chức dạy học buổi 2 hợp lí, đảm bảo theo quy trình của tiếng Việt CGD, tích cực củng cố kiến thức ngữ âm, từ vựng trong buổi 1 kết hợp phát triển vốn từ cho học sinh”. (Trích báo cáo của Sở GD&ĐT Lào Cai).

Hà Giang lại có một bài học khác:

-                     Công tác quản lí, chỉ đạo:

+ Việc chọn trường, lớp, học sinh, cán bộ quản lý và giáo viên để triển khai dạy thử nghiệm tài liệu là rất quan trọng, yếu tố giáo viên quyết định 90% của sự thành công trong việc dạy thử nghiệm tài liệu Tiếng việt lớp 1 - CGD.

+ Phải tạo điều kiện, bố trí cho cán bộ quản lý cấp Phòng giáo dục, Hiệu trưởng, giáo viên các trường dạy thử nghiệm đi giao lưu học hỏi kinh nghiệm thực tế (được thăm lớp, dự giờ, trao đổi trực tiếp với giáo viên có kinh nghiệm dạy tài liệu lớp 1-CGD).

+ Công tác kiểm tra, thăm lớp, dự giờ đối với giáo viên dạy, học sinh học là rất cần thiết, đảm bảo sự phù hợp ở từng thời điểm kiểm tra khác nhau (vì có 4 mẫu/35 tuần thực học).

+ Tài liệu Tiếng Việt lớp 1 - CGD có 2 tuần đầu (gọi là Tuần 0) là rất quan trọng, bắt buộc giáo viên và học sinh phải thực hiện vì có tác dụng: hình thành nề nếp, thói quen học tập, kỹ năng hành dụng cho học sinh trong suốt cả năm học (không được cắt bỏ).

+ Công tác tuyên truyền trong cộng đồng (phụ huynh học sinh) có con, em học lớp Công nghệ là rất cần thiết, nhằm tạo sự đồng thuận của phụ huynh học sinh với nhà trường ngay từ đầu năm học.

+ Thường xuyên theo dõi sát các hoạt động Dạy - Học của lớp học công nghệ, thăm lớp, dự giờ góp ý về kỹ thuật cho giáo viên, uốn nắn nề nếp học sinh,...

+ Tổ chức cho giáo viên được giao lưu học hỏi kinh nghiệm (thăm lớp dự giờ) ở một số địa phương đã triển khai thực hiện và có kinh nghiệm về dạy tài liệu lớp 1-CGD.

- Đối với giáo viên trực tiếp dạy

+ Thực hiện thật tốt hai tuần đầu làm quen (Tuần 0) với những quy tắc, quy ước làm việc giữa cô và trò, nề nếp trong giờ học; thống nhất về một loại vở viết, một loại bút viết cho học sinh.

+ Giáo viên tuyệt đối không giảng, nói càng ít càng tốt. Giáo viên giao việc, làm mẫu, theo dõi, điều chỉnh, đính chính.

+ Giáo viên phải tâm huyết, yêu nghề dạy học.

+ Giáo viên cần nghiên cứu kỹ cuốn Thiết kế Tiếng Việt 1 (3 tập), thuộc thiết kế của  từng loại bài dạy trước khi lên lớp.

- Đối với cấp chỉ đạo thực hiện tài liệu

+ Tăng thêm thời lượng (hoặc) tách phần việc 4 (luyện viết chữ) vào một tiết khác (vào buổi học thứ 2). Sách thiết kế nên chia thành hai cột: cột hoạt động của thầy và hoạt động của trò, cần chính xác hơn về các lệnh (kênh chữ). (Trích báo cáo của Sở GD&ĐT Hà Giang).

2.3. Kết quả triển khai năm học 2011-2012:

Năm học 2011-2012 mới diễn ra được một học kỳ. Các hoạt động đã được tiến hành: Chỉnh sửa, in ấn sách giáo khoa và thiết kế, tập huấn cốt cán trung ươngvà cốt cán địa phương, chuyển sách và tài liệu tập huấn về địa phương, hỗ trợ kỹ thuật, giám sát kỳ I.

Chỉnh sửa sách giáo khoa, sách thiết kế và sách tập huấn được nhóm cốt cán trung ương thực hiện dưới sự lựa chọn và chỉ đạo, biên soạn, biên tập của GS. Hồ Ngọc Đại. Quá trình trên  được tiến hành trong suốt năm học 2010-2011, đến tháng 6 đã hoàn tất, kịp thời cho năm học mới.

Việc in ấn và cung cấp tài liệu về địa phương do Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển trường Phổ thông Công nghệ Giáo dục thực hiện đúng tiến độ in ấn và phát hành kịp thời gian.

Về cốt cán trung ương, như trên đã viết, việc thành lập được một đội ngũ rộng lớn hơn với 25 cán bộ từ trung ương đến địa phương dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Vụ GDTH là một điều chỉnh lớn trong phương pháp quản lý nhân sự của Bộ GD&ĐT. Các cốt cán trung ương, kể cả người của Viện CGD cũng được cấp công tác phí. Nguồn kinh phí vẫn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia, vẫn chuyển về tài khoản của Viện KHGDVN nhưng đối tượng chi đã cởi mở hơn, không tính toán đến việc họ từ cơ quan nào, mà chỉ tính đến họ làm việc gì phục vụ cho hoạt động này.

Trung tâm NCCNGD, Ban công tác năm học 2010-2011 vẫn tham gia trực tiếp tổ chức, chỉ đạo tập huấn cốt cán trung ương nhưng không phụ trách tài chính. Vụ GDTH đứng ra đảm đương trách nhiệm năng nề này. Hoạt động giám sát hỗ trợ kỹ thuật học kỳ I năm học 2011-2012 do Vụ GDTH chỉ đạo. Theo phỏng vấn ban đầu các cán bộ đi tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật kỳ I, các tỉnh mới tham gia như Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Cà Mau làm khá chắc chắn. Lạng Sơn có đội ngũ cán bộ quản lý rất tâm huyết, chuyên môn vững vàng. Cao Bằng cũng vậy, nhưng giáo viên của Lạng Sơn chắc tay hơn. Hiện Lạng Sơn đã có kế hoạch đưa vào trường Cao Đẳng để đào tạo đội ngũ giáo viên cho tỉnh. Cà Mau mới qua học kỳ I nhưng đã thấy kết quả khả quan rõ rệt. Năm học này Sơn La mở rộng và cũng cần hỗ trợ kỹ thuật ở những nơi mới mở. Tuy nhiên, theo đánh giá của GS. Hồ Ngọc Đại, Sơn La làm rất tốt, từng bước tự chủ, chắc chắn. Theo báo cáo hỗ trợ kỹ thuật kỳ I, một số ý kiến được nêu ra như sau:

- Kế hoạch hỗ trợ kĩ thuật giữa kì I.TV1CGD đã thực hiện đúng tiến độ và đạt mục tiêu đặt ra.

- Các địa phương (8tỉnh) đã được hỗ trợ và tư vấn kịp thời về công tác giảng dạy cũng như công tác chỉ đạo.

- Vụ Tiểu học đã nắm chắc tình hình triển khai TV1.CGD tại các địa phương. Trên cơ sở đó có những giải pháp, kế hoạch hỗ trợ bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn TV1.CGD trong thời gian tiếp theo.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại các vấn đề về chậm kinh phí, thiếu cán bộ cốt cán vững vàng và kỹ năng tập huấn của đội ngũ cốt cán còn hạn chế.

  1. 3. Phân tích những mặt tích cực và bất cập của việc triển khai những năm qua về mặt quản lý:

NHỮNG MẶT TÍCH CỰC:

So sánh các bản Kế hoạch ban hành trong 3 năm qua cho thấy Các Kế hoạch của Bộ GD&ĐT ban hành từng năm được hoàn thiện dần, cố gắng đạt được sự chặt chẽ trong các hoạt động, sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, tiến tới hiệu quả.

Việc quản lý theo phương thức „tự nguyện“tham gia đã tạo ra sự chủ động của địa phương, tự chịu trách nhiệm và quan tâm nhiều đến lợi ích của học sinh hơn.

Các Sở GD&ĐT vào cuộc với sự nỗ lực cao, nhiều sáng kiến về quản lý. Các phát hiện của giáo viên về thiết kế giúp cho tác giả điều chỉnh thiết kế theo hướng chuẩn hóa và tối ưu hơn.

Bộ GD&ĐT, Vụ GDTH quản lý sâu sát tình hình triển khai tại địa phương, nắm bắt tình hình thực hiện triển khai chương trình qua nhiều kênh khác nhau và rất kịp thời chỉ đạo hỗ trợ kỹ thuật những nơi có khó khăn (Ví dụ như Ninh Thuận).

Trung tâm NCCNGD được giao một việc quá với khả năng của mình nhưng cũng rất cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ trong khả năng có thể. Đội ngũ cán bộ tuy còn nhiều khó khăn nhưng khi cách quản lý thay đổi, tinh thần làm việc cũng thay đổi, theo hướng tích cực hơn.

Chương trình TV1 CGD đã từng được triển khai ở 43 tỉnh thành trên cả nước (trước năm 2000), ở những vùng phát triển trước, sau đó mới đưa về những vùng kém phát triển hơn. Việc học theo giải pháp này ở các thành phố lớn đã giải quyết được „nạn“ học đọc, viết Tiếng Việt trước 6 tuổi ở các trường mẫu giáo. Hai năm qua, chương trình đã được hoàn thiện dần và đạt được hiệu quả ở cả những vùng khó khăn nhất, cho học sinh dân tộc thiểu số, chưa biết nghe, nói tiếng Việt trước khi đến trường. Mặc dù còn nhiều khó khăn ngoại cảnh như về đội ngũ triển khai, chậm sách và thiết kế, học sinh còn bỏ lớp, đời sống nghèo khổ, lạc hậu của địa phương, ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ... nhưng với sức mạnh của bộ sách và thiết kế, với sự chỉ đạo sát sao của Bộ GD&ĐT và các Sở GD&ĐT, chương trình TV1 CGD đã trở thành một giải pháp hữu hiệu cho việc học Tiếng Việt của học sinh thiểu số và vùng khó.

GS. Hồ Ngọc Đại và các cộng sự tâm huyết ở các cấp (quản lý, nghiên cứu và giáo viên) rất say sưa với việc triển khai, làm việc hết mình cho sự nghiệp giáo dục, không tính toán lợi ích cá nhân. GS. Đại đã trao bản quyền cho Nhà Xuất Bản Giáo dục Việt Nam nên việc phát hành tài liệu có nhiều thuận lợi (Theo Tài liệu về quản lý dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc, 2011 của Vụ GDTH).

NHỮNG MẶT BẤT CẬP:

  1. Về phối hợp quản lí:

Cơ chế phối hợp, cơ chế báo cáo và cơ chế chịu trách nhiệm giữa Vụ GDTH, Viện KHGDVN và Trung tâm NCCNGD không rõ ràng nên Ban công tác rất khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ. Việc giao cho Trung tâm NCCNGD, một cơ quan không có tư cách độc lập, làm việc trực tiếp với Vụ GDTH và với địa phương, giao nhiệm vụ trực tiếp cho đội ngũ côt cán trung ương từ các cơ quan khác nhau là không khả thi, nhất là giao việc mà không cung cấp kinh phí thì lại càng không khả thi. Trong quá trình triển khai, Ban công tác không rõ nhiệm vụ của Vụ GDDT. Không có sự phối hợp gì với Vụ GDDT.

  1. 1. Về lực lượng Cốt cán trung ương và cơ chế phối hợp thực hiện:

-                     Số lượng Cốt cán trung ương hạn chế so với nhiệm vụ được giao.

-                     Cán bộ Cốt cán trung ương của Trung tâm NCCNGD chỉ có 5 người nhưng lại nằm ở 3 phòng nghiên cứu khác nhau nên sự hợp tác hỗ trợ lẫn nhau ngay tại Trung tâm bị hạn chế.

-                     Để thực hiện linh hoạt nhiệm vụ, khi cán bộ Ban công tác của Trung tâm không đi công tác được, Trung tâm có thể huy động đội ngũ cốt cán của Viện Công nghệ Giáo dục, nhưng cơ chế chi tiêu của Viện KHGDVN không cho phép, đây cũng là một hạn chế. Hạn chế này đã được khắc phục ở năm học 2011-2012.

-                     Cốt cán của các địa phương như Lào Cai, Kiên Giang (năm học 2010-2011) cần cụ thể là ai và có cơ chế rõ ràng khi tham gia vào hỗ trợ các địa phương khác trong khu vực (Ví dụ như thời gian hỗ trợ không trùng với thời gian hỗ trợ tại chính tỉnh mình, kinh phí hỗ trợ cần rõ nguồn...).

  1. 2. Sự phối hợp trong chỉnh sửa, in ấn và phân phối sách và thiết kế:

Các mắt xích (chỉnh sửa, in ấn, phân phối) nếu không thực hiện đúng tiến độ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới địa phương. Sự chậm chạp của Quảng Bình năm học 2010-2011 khiến cho thiết kế tập 3 và vở tập viết tập 3 đến cuối năm học vẫn không đến được với giáo viên và học sinh, sự chậm chạp của bộ phận in ấn khiến cho Bình Phước giảm số lượng học sinh so với dự kiến ban đầu gần 1000 em và rất khó khăn trong thời gian đầu triển khai.

  1. 3. Về nội dung Thiết kế:

Năm học 2010-2011, còn một số tồn tại:

+       Thiết kế chi tiết có một số tiết sai mẫu của GS. Hồ Ngọc Đại, cần điều chỉnh.

+       Thiết kế cần bổ sung một số tiết phòng hao vào các tuần cho những lớp chậm hay cho một số học sinh chậm.

+       Thiết kế cần bổ sung tiết kiểm tra, đánh giá giữa kỳ, cuối kỳ, cuối năm;

Năm học 2011-2012, sau khi chỉnh sửa, địa phương đã có nhận xét:

-         Một số vật liệu trong thiết kế và tài liệu Tập viết còn vênh nhau.

  1. 4. Về tài chính:

Tài chính được hỗ trợ quá chậm ảnh hưởng trực tiếp đến việc tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật tại địa phương.

  1. 4. Đề xuất giải pháp cho việc triển khai TV1 về địa phương năm học 2012-2013:

Sau khi nghiên cứu, phân tích quá trình và kết quả triển khai, chúng tôi khẳng định giải pháp Tiếng Việt 1 CGD cho học sinh dân tộc là một giải pháp có kết quả tốt, không chỉ cho học sinh mà còn có giá trị như một giải pháp đổi mới phương pháp giáo dục và phương pháp quản lý cho giáo viên. Với học sinh, kết quả học tập không chỉ là Tiếng Việt, mà còn là phương pháp tư duy ngôn ngữ và các quan hệ học tập hiện đại. Các Quyết định và Kế hoạch của Bộ GD&ĐT ban hành chứng tỏ là rất đúng đắn và đáp ứng được thực tiễn. Tuy nhiên, để cho việc triển khai được tốt hơn trong năm học tiếp theo, chúng tôi có một số đề nghị như sau:

  1. 1. Quản lý:

-         Cần có sự đồng thuận, nhất trí cao trong công tác chỉ đạo, từ Bộ đến Viện, đến Trung tâm;

-         Vì đây là hoạt động triển khai trên phạm vi cả nước, Vụ GDTH cần đứng ra chủ trì và điều phối hoạt động này, phụ trách về tài chính và nhân sự.

-         Nếu vẫn giao cho Viện KHGDVN thì cần làm rõ cơ chế phối hợp quản lý, cơ chế báo cáo và cơ chế chịu trách nhiệm giữa Vụ GDTH, Viện KHGDVN, Viện CGD và Trung tâm NCCNGD.

-         Theo đó Viện KHGDVN giao việc cho Trung tâm NCCNGD theo cơ chế thực hiện một NHIỆM VỤ triển khai nghiên cứu hay một DỰ ÁN triển khai nghiên cứu, tạo điều kiện cho Trung tâm NCCNGD được chủ động thực hiện nhiệm vụ, và tạo cơ hội tăng cường năng lực và mở rộng đội ngũ triển khai để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Các hoạt động này cần được ghi nhận trong định hướng hoạt động và báo cáo tổng kết công tác 6 tháng và hằng năm của Viện KHGDVN.

-         Lãnh đạo các Sở GD&ĐT cần có chỉ đạo và giám sát thường xuyên hoạt động này, không để xảy ra hiện tượng như ở Quảng Bình.

- Tỉnh nào triển khai năm đầu tiên cần chú ý chọn giáo viên và cán bộ quản lý trực tiếp theo tiêu chí: Tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc tuân thủ chặt chẽ quy trình trong thiết kế, nắm chắc từng loại hình thiết kế mẫu, dứt khoát chuyển sang phương pháp Công nghệ giáo dục, không đan xen với phương pháp đại trà. Chỉ từ năm thứ hai trở đi, khi giáo viên nắm chắc phương pháp mới, tự tin, thì mới cho phép vận dụng linh hoạt, sáng tạo thiết kế.

- Tỉnh nào triển khai năm thứ hai, nhưng mở rộng ra các huyện mới, cần mở rộng cả đội ngũ cốt cán và được phép tập huấn tại trung ương.

  1. 2. Phát triển đội ngũ cốt cán:

-         Bổ sung nhân sự môn Tiếng Việt cho Trung tâm NCCNGD và Viện CGD và tập huấn đội ngũ này.

-         Tổ chức lại đội ngũ của Trung tâm NCCNGD. Bố trí các cán bộ vào một phòng nghiên cứu GDTH nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ được giao.

-         Thành lập đội ngũ cốt cán khu vực do một số địa phương đảm nhận.

-         Đội ngũ cốt cán là cán bộ, giáo viên địa phương cần được tập huấn thêm về lý luận CGD và hiểu rõ bản chất, lý lẽ của chương trình Tiếng Việt 1 CGD.

 

 

  1. 3. Phát triển bền vững đội ngũ giáo viên:

-         Đưa chương trình CGD vào các trường sư phạm như một hợp phần của tâm lý học dạy học và giáo dục Tiểu học

  1. 4. Về tài chính:

-         Cấp dòng ngân sách chính thức cho hoạt động này một cách ổn định

-         Đảm bảo kinh phí cho cán bộ  thực hiện nhiệm vụ.

-         Tạo điều kiện cho Viện Công nghệ giáo dục tham gia về mặt tài chính, cư xử bình đẳng như với cán bộ tham gia việc chung của Bộ GD&ĐT.

-         Có phụ cấp hàng tháng cho giáo viên dạy năm đầu, dạy thêm giờ.

- Kinh phí cho hoạt động này cần được phê duyệt theo năm học, không theo năm tài chính.

- Đề nghị cung cấp kinh phí cho việc quay băng hình các tiết dạy mẫu.

- Viện KHGDVN cần hỗ trợ tài chính kịp thời cho đoàn công tác vì sự quy định thời gian của năm học và các hoạt động phải diễn ra không chờ đợi cho đến khi có kinh phí.

  1. 5. Về cán bộ quản lý và giáo viên địa phương:

-         Các Sở GD&ĐT cần tổ chức mạng lưới cốt cán của tỉnh, tạo cơ chế cho mạng lưới hoạt động, chủ động giám sát và hỗ trợ chuyên môn cho những nơi còn yếu.

- Các lớp tập huấn giáo viên không quá 50 học viên và phải đủ thời gian để hiểu rõ về phương pháp mới (tránh đông tới 100 người và thiếu thời gian như ở Bình Phước).

- Tập huấn cấp tỉnh cần chia thành 2 loại lớp: Tập huấn cho cán bộ quản lý giáo dục (lãnh đạo, chuyên viên phòng GDTH, hiệu trưởng) và tập huấn cho giáo viên (chuyên viên phụ trách Tiểu học của các phòng giáo dục, phó hiệu trưởng trường tiểu học, tổ trưởng chuyên môn khối lớp 1 và các giáo viên trực tiếp dạy Tiếng Việt 1 CGD) với thời lượng khác nhau và nội dung khác nhau.

-         Các phòng GD&ĐT cần giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho giáo viên trong quá trình triển khai.

-         Hiệu trưởng cần dự giờ để hiểu về chương trình và kiểm tra hỗ trợ giáo viên. Lúc đầu mới tham gia chương trình, nếu cần thiết, Hiệu trưởng cần họp phụ huynh để giải thích, thuyết phục.

-         Tạo điều kiện cho cán bộ quản lý và giáo viên được giao lưu học hỏi lẫn nhau và học hỏi kinh nghiệm tốt của tỉnh bạn.

-         Các tỉnh làm tốt tiếp tục phát huy, tổ chức hội thảo để làm tốt hơn và giúp đỡ các tỉnh mới làm.

-         Giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của SGK và các bước trong thiết kế.

-         Giáo viên cần hiểu các khái niệm ngữ âm và luật chính tả được thiết kế trong chương trình.

-         Giáo viên cần tuân thủ chặt chẽ quy trình mẫu. Khi có khó khăn, không được lưỡng lự, dạy đánh vần hay tập chép theo phương pháp đại trà.

-         Với những HS nghỉ học nhiều buổi, ảnh hưởng đến kết quả học tập, cần có kế hoạch học bù.

-         Cho phép dãn chương trình cho những lớp chậm.

- Tuyệt đối không được cắt bỏ hai tuần đầu (gọi là Tuần 0) vì nó có tác dụng hình thành nề nếp học tập cho học sinh trong toàn bộ cả năm học.

-         Bố Trạch, Quảng Bình cần tạo mạng lưới trao đổi chuyên môn cho giáo viên.

-         Điều chỉnh chương trình Tiếng Việt lớp 2 đại trà, thay nhìn – chép bằng nghe – viết cho những lớp học sinh học theo chương trình Tiếng Việt lớp 1 CGD lên.

-         Tổ chức hội thảo, sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường, theo huyện để rút kinh nghiệm về công tác chỉ đạo và giảng dạy.

-         Có chế độ giảm lượng tiết dạy cho giáo viên là cốt cán khi đi hỗ trợ kĩ thuật.

-         Cần triển khai đồng bộ với tất cả các lớp của khối 1 trong từng trường được thí điểm.

  1. 6. Về tài liệu chuyên môn:

-         Tài liệu năm học cần hoàn thiện bản thảo vào tháng 5 và hoàn thành in ấn trong tháng 6 hằng năm.

-         Giữ vững ổn định về sách trong 3 năm.

-         Theo dõi thiết kế và vở tập viết sát sao và chỉnh sửa hằng năm nếu thấy cần.

- Thực hiện làm băng hình các tiết dạy mẫu.

- Thực hiện làm đồ dùng dạy học theo chương trình CGD.

  1. 7. Thủ tục hành chính:

-         Cần quy trình hóa các thủ tục hành chính để cán bộ tham gia nắm được quy tắc, lề lối làm việc, không mất thời gian và gây hiểu lầm không cần thiết.

-         Tạo điều kiện để cán bộ làm việc chuyên môn hoá, cán bộ nghiên cứu làm nghiên cứu và triển khai, cán bộ hành chính làm nhiệm vụ hành chính. Không bắt các cán bộ nghiên cứu phải thực hiện phần việc của cán bộ hành chính và tài chính.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1. Báo cáo các năm học của các địa phương tham gia
  2. 2. Báo cáo sau các kì tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, đo nghiệm của cốt cán trung ương
  3. 3. Kế hoạch triển khai các năm học 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012 của Bộ GD&ĐT
  4. 4. Quyết định 5236/QĐ-BGD ĐT về việc thành lập Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học
  5. 5. Quyết định phê duyệt tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật hằng năm của Viện KHGDVN
  6. 6. Tài liệu về Quản lý dạy học Tiếng Việt cho HSDT theo các giải pháp của Bộ GD&ĐT của Vụ GDTH 2011


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED