Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Đánh giá của các nhà quản lý về Công nghệ giáo dục

CGD như một phương thức hành nghề đã làm thay đổi quan hệ giữa con người với nhau, trước hết là giữa thầy và trò, sau là giữa nhà trường với gia đình và nói chung làm cho mọi quan hệ trở nên lành mạnh, tự nhiên. Sau 20 năm triển khai CGD, nhận định về CGD càng có độ tin cậy, ưu điểm vượt trội của CGD càng có sức thuyết phục.

1. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hải Phòng

+ Đồng chí Nguyễn Đức Vinh, Thành ủy viên, Bí thư quận ủy Ngô Quyền: “Kiến thức của học sinh thực nghiệm không những không thua kém học sinh đại trà mà ở một số mặt, đặc biệt khả năng tư duy, lối sống lành mạnh, mạnh dạn, hồn nhiên,... có tiến bộ rõ nét. Tiếp tục thực nghiệm để ứng dụng toàn phần hoặc từng phần là việc nên làm, rất có lợi cho sự nghiệp giáo dục ở quận chúng tôi” [Theo Ngô Bát, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, 1991].

+ Tổng kết 20 năm thực nghiệm CGD ở Hải Phòng (1985 - 2005), Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng nhận xét:

“Với học sinh, kết quả học tập rất khả quan, không những đạt chuẩn tối thiểu của chương trình đại trà theo quy định (hạn dưới) mà ở nhiều môn, kiến thức của học sinh tinh chắc, bản chất và có nhiều điểm cao hơn. Cuộc thực nghiệm lâu dài đã cho thấy tiềm năng của trẻ em rất lớn, nếu biết phát huy tối ưu nội lực thì các em hoàn toàn có thể tiếp cận được những khái niệm đơn giản về ngôn ngữ, về tập hợp (toán)…

Nắm được bản chất kiến thức và có tư duy lôgic, học sinh thực nghiệm hoàn toàn có khả năng xử lí tốt các kĩ năng đọc, nói, viết, làm toán thành thạo, có tốc độ nhanh và chắc chắn. Kết quả thi tốt nghiệp cấp I của học sinh thực nghiệm khóa I năm 1990 đạt 100% (theo đề đại trà) là một ví dụ rõ rệt.

Đáng kể hơn là sự phát triển toàn diện của học sinh về nhân cách: chăm ngoan, học giỏi, có lòng nhân ái, vị tha, độc lập, tự tin và hồn nhiên” [Trích báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng tại Hội nghị Công nghệ giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao. Đà Nẵng, 15, 16/6 - 2006].

Sự tác động tích cực của CGD không chỉ tới học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên đứng lớp cũng thay đổi tư duy và cách làm giáo dục, mặc dù lúc đầu họ trải nghiệm không ít khó khăn: “Với cán bộ, giáo viên, thực nghiệm CGD thực sự là một trường học lớn về nghề nghiệp. Chuyển đổi từ cách nghĩ, cách làm giáo dục, từ những lẽ phải truyền thống sang cách nghĩ, cách làm của CGD là một quá trình thử thách gay go, đầy định kiến. Vì sao học sinh là chủ thể, là trung tâm? Vì sao dạy học lại không cần giảng? Vì sao giáo dục lại có công nghệ như máy móc? Vì sao lại không cần cho điểm?... Tất cả những điều trên đã được giải quyết nhờ có lí thuyết CGD kết hợp với thực nghiệm giảng dạy của giáo viên.

Hiểu được cái gốc của lí luận dạy học, của tâm lí học trẻ em, của cơ chế tri thức “chuyển vào” đầu óc học sinh, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao được cha mẹ học sinh tin tưởng, được xã hội hoan nghênh, trình độ nghiệp vụ và lòng yêu nghề của giáo viên càng được nâng cao. Ai đã qua dạy thực nghiệm đều thấy nghề dạy học, đặc biệt ở lớp một, cấp một thực sự là tinh xảo, đậm đặc tính sư phạm và đều không muốn quay về dạy theo lối cũ” [Trích báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng tại Hội nghị Công nghệ giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao. Đà Nẵng, 15, 16/6 - 2006].

Tháng 10/1996, tại Hội nghị thường vụ Bộ Chính trị TƯ Đảng, sau khi có ý kiến phê chuẩn của Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Giám đốc Sở Trần Xuân Đình đã báo cáo: “Nhập CGD ở bậc Tiểu học là một trong các nguyên nhân của thành tựu giáo dục Hải Phòng trong 10 năm đổi mới” “Nhờ CGD mà cán bộ, giáo viên Hải Phòng đã có sự trưởng thành về nghiệp vụ, gắn bó hơn nữa với nghề. Sự nghiệp trồng người của họ mang thêm nhiều ý nghĩa mới, đậm đà tính cách nhân văn” [Trích báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng tại Hội nghị Công nghệ giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao. Đà Nẵng, 15, 16/6 - 2006].

+ Năm 2001, ông Nguyễn Văn Vỵ, Phó Trưởng phòng GD&ĐT Quận Ngô Quyền – Hải Phòng viết bài ca ngợi sách Toán lớp Một CGD giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy học đạt hiệu quả đích thực: “Đọc sách Toán lớp Một CGD, trong hoàn cảnh đất nước đang thực hiện rất có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng, kéo theo sự phát triển tâm sinh lí của trẻ em, càng thấy trân trọng những gì mà sách đã thể hiện được.

Trước hết và tất cả đều toát lên ở phương pháp, ở cấu trúc toàn bộ cuốn sách. Đặc biệt là tư tưởng thiết kế cho một tiết học, một vấn đề mà ở đó đã chỉ rõ công việc của thầy, việc của trò phải thực hiện để có nhận thức.

Ví dụ thì nhiều, nhưng hãy thử để ý phần 4 trang 15 tập 1 nói về Tập hợp, rồi phần 5 trang 18 nói về quan hệ thuộc. Đặc biệt phần 7, trang 24 khi nói về quan hệ số giữa hai tập hợp. Điều này hết sức bổ ích khi ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học mà nội dung chính yếu là hãy tạo cơ hội để học sinh được làm, được suy nghĩ, được thể hiện để nhận thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô.

Chẳng những vậy, ngay cả những vấn đề mang tính bản chất, đích thực của nhiều khái niệm toán học cũng được sách chỉ ra cách thực hiện khoa học, sâu sắc. Ta hãy xem phần 8, trang 30 nói về “Ghi số bằng sơ đồ”. Vậy là mỗi phần tử của tập hợp được ghi bằng dấu “x” để tiến tới hình thành khái niệm số. Từ đó chuyển sang phần 9, trang 32, lần đầu tiên trẻ em lớp Một học được cách ghi số bằng chữ số. Và rồi khi đã có 9 chữ số đầu tiên, sách đưa học sinh vào khái niệm “Dãy số tự nhiên” một cách rất tự nhiên cùng với tia số, khái niệm số liền trước, số liền sau tại các trang 62, 63.

Sau cùng là hình thành phép đếm rất khoa học, rất thực tế với những chữ in đậm “Mỗi phần tử chỉ đếm một lần: không thừa, không bỏ sót, không lặp lại” (trang 64).

Thích thú và hấp dẫn hơn là sách đã đưa ra phương pháp hình thành “Phép cộng” – phép tính đầu tiên, cơ sở bằng các thao tác vừa cụ thể, vừa dễ hiểu với trẻ em mà lại rất chặt chẽ qua “Phép gộp” các khối nhựa vào một túi (trang 68). Ngay cả phép cộng được hiểu bằng phép “Đếm tiếp” là phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp Một.

Điều cuối cùng của những dòng viết là nói tới cách làm của sách Toán lớp Một CGD để phát huy tư duy của trẻ. Đó là phần 16, trang 78 với đầu đề

“Em làm và em suy ra”. Ở đây, học sinh không chỉ được củng cố toàn bộ những gì đã học được trước đó như 5 + 3 = 8; 8 – 5 = 3, 8 – 3 = 5, mà quan trọng hơn là tư tưởng ghi bằng máy được thể hiện xuyên suốt.

theo quy trình:

- Vật liệu (đầu vào);

- Máy (thao tác);

- Kết quả (đầu ra)”.

Các bài tập 24, 25 trang 102 (tập 2) và bài tập 2, trang 76 (tập 2) là những nét vừa mang tính chấm phá đầu tiên về hoạt động của máy, vừa có tính củng cố những thao tác tư duy rất hữu ích” [Công nghệ giáo dục bậc Tiểu học, Trung tâm Công nghệ giáo dục, tr. 129-130. Hà Nội, 2001].

2. Đánh giá triển khai Tiếng Việt CGD tại Hà Bắc của Bộ GD&ĐT

Năm 1985, Hà Bắc là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho mở trường thực nghiệm giáo dục phổ thông. Trường thực nghiệm Hà Bắc đặt tại Trường PTCS Lê Hồng Phong, thuộc khu vực xí nghiệp Liên hợp đạm thị xã Bắc Giang. Trường chủ yếu dạy con em công nhân của xí nghiệp (65%). Ngoài 4 môn thực nghiệm là Toán, tiếng Nga, tiếng Việt và Văn, học sinh được học cả Thể dục, Hoạ, Nhạc và Giáo dục Lối sống. Về kết quả thực nghiệm, chỉ xin nêu ở đây kết luận nghiệm thu bộ môn tiếng Việt của Bộ Giáo dục đối với lớp Một đầu tiên, ngày 25/4/1986 – Đoàn cán bộ nghiên cứu do Giáo sư Tiến sĩ Phạm Đình Thái làm trưởng đoàn, Giáo sư Phạm Văn Hoàn làm phó trưởng đoàn. Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục, đoàn đã tổ chức khảo sát, so sánh kết quả ở 69 học sinh thực nghiệm (100%) và 70 học sinh phổ thông tại trường PTCS Lê Hồng Phong, nơi trường đóng, trên cùng một khu tuyển sinh. Kết quả như sau:

Về kĩ năng đọc:

“- Học sinh thực nghiệm: nắm khá chắc các âm và vần đã học, kể cả vần khó ít dùng. Đọc khá rõ ràng, chính xác, đọc câu khá nhanh, tốc độ đạt 40 tiếng/phút trở lên. So với yêu cầu phổ cập (diện đại trà) của lớp Một cải cách giáo dục (CCGD) trong giai đoạn tập đọc, học sinh đạt và vượt với mức độ cao.

-       Học sinh đại trà: Nắm được vần đã học, song một số còn quên, lầm lẫn các vần khó, đọc tiếng chậm, một số thiếu chính xác. Tốc độ trung bình chỉ đạt 10 - 15 tiếng/phút”.

Về năng lực viết:

“- Học sinh thực nghiệm: Hầu hết viết chữ rõ, đủ, đúng, sạch sẽ, trong đó có khá nhiều em viết đẹp, chính xác. Quan hệ giữa độ cao và kĩ năng viết liền nét tương đối tốt, rất ít mắc lỗi chính tả, tốc độ viết trung bình đạt 20 chữ/4 phút.

-       Học sinh đại trà: Nhìn chung ở những em đạt yêu cầu trở lên viết đúng, đủ, rõ, song số em viết sạch, đẹp, nhanh chưa nhiều. Tốc độ trung bình đạt 20 chữ/9 phút. Một số học sinh còn mắc lỗi chính tả. Một số khác viết kém, trình bày bẩn, quan hệ giữa độ cao và kĩ năng viết liền mạch chưa tốt”.

-       Về năng lực nói:

“- Học sinh thực nghiệm: Nhanh nhẹn trong việc trả lời, đa số các em đặt được câu chứa tiếng và từ theo yêu cầu. Nhiều em đặt câu đúng, hay.

-       Học sinh đại trà: Năng lực này còn yếu, kém”.

Hiệu trưởng nhà trường, ông Đinh Ngọc Thuyết khẳng định: “Hiện nay, học sinh trường chúng tôi rất thích đến trường. Theo các bậc cha mẹ, các em không “thích” ốm để phải nghỉ học. Các bạn nhỏ yêu mến thầy giáo, cô giáo. Các em vui tươi, nhanh nhẹn, tự nhiên và hồn nhiên”.

[Đinh Ngọc Thuyết, Về thực nghiệm giáo dục phổ thông tại Hà Bắc, 1/1988].

3. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh

Sau sáu năm thực hiện CGD ở trường Thực nghiệm Giáo dục phổ thông quận I Thành phố Hồ Chí Minh, bà Phạm Thị Hảo - Hiệu trưởng nhà trường có nhận xét như sau: “Chương trình CGD cao hơn, dạy kĩ hơn, học sinh hiểu bài sâu hơn (lôgic hơn).

a. Phát huy được tư duy của học sinh, các em tỏ ra thông minh hơn.

b. Cùng học một khối lớp thì học sinh thích học và có trách nhiệm trong học tập hơn.

c. Cùng học một khối lớp, học sinh thực nghiệm giỏi hơn.

Cha mẹ học sinh có ý kiến là gửi con vào học thực nghiệm thì yên tâm và đều lấy làm tiếc khi phải chuyển trường hoặc khi không xin được vào học, khi không được học tiếp lên cấp học trên”.

Từ thực tiễn triển khai, ông Ngô Ngọc Bửu, Hiệu trưởng Trường Trung học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh đưa ra phương thức tổ chức việc đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ giáo viên của Tp. Hồ Chí Minh theo phương án CGD và kiến nghị: “Nay ta đã có một cái mẫu kết quả nghiên cứu giáo dục trẻ em trong cả nước và đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá tốt. Trường Trung học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh trong hai năm nay lại có cùng hệ thống giáo dục thực nghiệm thử đào tạo thêm và đào tạo lại nhiều khoa giáo sinh và giáo viên cũ tỏ ra có kết quả. Vì thế, phương án này có thể coi là một phương án đáng tin cậy. Xuất phát từ thực tiễn đó, ý thức được trách nhiệm của mình, tôi thay mặt tập thể cán bộ, giáo viên Trường Trung học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh đề nghị được nhận nhiệm vụ thực hiện phương án đào tạo này”.

Dưới đây là một nghiên cứu thú vị của bà Võ Kim Loan – Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Bình Thạnh – Tp. Hồ Chí Minh khi so sánh kết quả “Tạo câu văn” giữa học sinh thực nghiệm và học sinh học theo chương trình đại trà. Trước tiên, Phòng Giáo dục và Đào tạo Bình Thạnh khảo sát so sánh năng lực tạo câu đúng cú pháp giữa học sinh lớp Hai thực nghiệm với học sinh lớp Hai cải cách giáo dục (CCGD). Kết quả cho thấy, học sinh kém của CCGD dục chiếm 25,7%, trong khi đó, học sinh kém của CGD chỉ chiếm 8,8%. Phòng Giáo dục và Đào tạo quyết định khảo sát lần thứ hai. Lần này là khảo sát cùng một đề kiểm tra giữa học sinh lớp Hai thực nghiệm với học sinh lớp Năm CCGD. Tỉ lệ yếu kém của lớp Năm CCGD vẫn lớn hơn hai lần tỉ lệ yếu kém của học sinh lớp Hai CGD. Cuối cùng, họ quyết định so sánh kết quả học sinh lớp Hai CGD với học sinh lớp Sáu CCGD ở trường Tân Tạo và vẫn thấy kết quả chênh lệch nhau khá xa. Bà Loan đã đề xuất phủ kín chương trình CGD và dần dần thay thế chương trình tiếng Việt CCGD bằng chương trình tiếng Việt CGD ở toàn bộ cấp I:

“Năm học 1989-1990, huyện Bình Chánh Tp. Hồ Chí Minh đã mở các lớp Một theo Công nghệ giáo dục, đến năm học 1990-1991 đã có 13 lớp Một và 3 lớp Hai ở hai trường An Lạc 1 và Tân Tạo. Sau hai năm, chúng tôi khảo sát trình độ những học sinh học “thực nghiệm”.

Cách khảo sát:

Phương pháp khảo sát của chúng tôi là so sánh năng lực tạo ra các câu đúng cú pháp ở học sinh lớp Hai thực nghiệm so với học sinh lớp Sáu CCGD. Sở dĩ chúng tôi làm như thế là vì:

d. Lần kiểm tra học kì I năm học 1990 - 1991, chúng tôi ra đề thi môn tiếng Việt chung cho cả hai chương trình (vì cả hai đều có học dạng tìm từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, dùng từ đặt câu) thì kết quả thu được khá chênh lệch.

Lớp Hai thực nghiệm: Giỏi 4,4%, Yếu 14,8%, Kém 8,8%.

Lớp Hai CCGD: Giỏi 7,2%, Yếu 27,5%, Kém 25,7%.

Hiệu phó chuyên môn các trường phản ánh là trình độ học sinh CCGD kém quá.

e. Đến lần khảo sát giữa học kì I, vào tháng 3 năm 1991 vừa qua, chúng tôi ra đề tiếng Việt lớp Hai thực nghiệm giống đề lớp Năm CCGD (cả hai đều có dạng ngắt câu, tìm chủ vị trong câu, đặt câu ghép), kết quả:

Lớp Hai thực nghiệm: Giỏi 7,0%, Yếu 18,4%, Kém 11,4%.

Lớp Năm CCGD: Giỏi 1,4%, Yếu 33,6%, Kém 26,6%.

Chúng tôi lại được Hiệu phó chuyên môn báo động chất lượng học sinh lớp Năm CCGD. Do vậy, lần này chúng tôi quyết định khảo sát đối chứng giữa học sinh đang học lớp Hai thực nghiệm với học sinh đang học lớp Sáu CCGD.

Cách làm cụ thể:

f. Chúng tôi chọn 2 lớp cùng địa bàn cư trú.

+ Lớp 2A thực nghiệm của cô Đỗ Thị Bảy, trường cấp I Tân Tạo.

+ Lớp 6A CCGD (lớp khá nhất trong khối 6 Trường cấp II Tân Tạo).

g. Chúng tôi tới lớp, đọc cho học sinh nghe câu chuyện “Hai người bạn” của Lev Tolstoi, trích trong tập truyện ngụ ngôn Kiến và Chim bồ câu theo giọng kể chậm ba lần.

h. Sau đó, yêu cầu các em tự ghi lại theo trí nhớ của mình rồi thu bài về nhà chấm.

Đối với học sinh lớp Sáu, chúng tôi có cho các em biết rõ yêu cầu là khảo sát cách viết câu của các em.

i. Khi chấm, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá năng lực học sinh tạo ra câu. Thực ra, khi chấm một bài viết như vậy, phải đánh giá cả cách tạo bài, cách đặt câu và cách dùng từ của các em. Nhưng do chỗ học sinh lớp Hai thực nghiệm mới học về câu nên chúng tôi chỉ đánh giá câu.

Kết quả:

Kết luận:

Số liệu trên cho chúng tôi thấy kết quả học tập của học sinh ở hai chương trình có sự chênh lệch nhau khá xa:

– Các em được học chương trình thực nghiệm ngay từ lớp Hai đã có ý thức viết câu, bước đầu biết dùng các dấu câu.

– Học sinh học chương trình CCGD, đã lên cấp II mà vẫn chưa có ý thức viết câu một cách chắc chắn. Chỉ có 13 em tạo ra 57 câu; 28 em còn lại viết một mạch từ đầu đến cuối bài, không đặt một dấu câu nào.

– Theo chúng tôi, việc chúng ta làm từng bước để đến năm 1995 phủ kín môn Tiếng Việt chương trình thực nghiệm trong các lớp Một thực nghiệm nói riêng và dần dần thay thế môn tiếng Việt chương trình CCGD cho tất cả các lớp cấp I nói chung là điều cần làm. Việc thay thế đó sẽ thực hiện như thế nào để kết quả thu được nhanh hơn, chắc chắn hơn, đó là điều chúng ta cùng suy nghĩ để tìm ra biện pháp tối ưu.

– Việc dạy thực nghiệm đạt kết quả tốt, nhưng cường độ lao động của giáo viên quá cao, cần có chế độ bồi dưỡng vật chất tương xứng với kết quả dạy học. Đồng thời, cũng cần đãi ngộ xứng đáng cán bộ trực tiếp chỉ đạo giáo dục của các quận, huyện, những cộng sự đắc lực của Trung tâm thực nghiệm Tp. Hồ Chí Minh.

– Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả giáo dục cao thì nội dung chương trình và giải pháp giáo dục mới cần được triển khai sâu rộng trong nhân dân, làm cho mọi tầng lớp xã hội thông suốt để có sự quan tâm, hỗ trợ đúng mức”.

4. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Thái Nguyên:

Ý kiến của ông Ngô Thượng Chính, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên sau hai năm thực hiện đại trà toàn tỉnh môn Tiếng Việt lớp Một nhận thấy chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh được nâng lên rõ rệt: “Kết thúc học kỳ I của chương trình Tiếng Việt CGD, học sinh lớp Một đã đạt được các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết khá thông thạo. Về kĩ năng đọc, học sinh đọc nhanh hơn, đúng hơn. Về kĩ năng viết, học sinh viết đúng hơn, đẹp hơn, ít lỗi chính tả hơn và biết vận dụng các quy tắc chính tả trong các tình huống ngữ pháp cơ bản. Chương trình cũng đã chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng nói, thực hành ngôn ngữ, làm cho học sinh lớp Một CGD có thói quen ứng xử tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp… Chương trình Tiếng Việt 1 đã đổi mới phương pháp học tập của học sinh; học sinh tiếp thu kiến thức chủ động và tích cực hơn. Mỗi tiết học đã thực sự mang lại niềm vui, hứng thú học tập và sáng tạo của các em học sinh.

Chương trình cũng đã bước đầu trang bị cho học sinh phương pháp tư duy và làm việc một cách khoa học nhờ việc đi vào dạy những vấn đề cơ bản và có tính quy luật của ngữ âm tiếng Việt. Điều quan trọng hơn nữa là do học tập tốt tiếng Việt với tư cách là công cụ nên các em học tốt các môn học khác. Kết quả xếp loại văn hóa được nâng lên (đa số các em đều đạt khá, giỏi) nên đã tạo được tâm lí tự tin, ham học cho học sinh; từ đó các em ngoan hơn, ít bỏ học hơn”.

Không những chất lượng giáo dục học sinh tăng lên, chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được nâng lên rõ rệt: “Chương trình tiếng Việt CGD, tự bản thân nó đã tạo cho giáo viên đổi mới được phương pháp dạy học. Công nghệ giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm, học sinh tham gia tích cực vào việc hình thành và tạo ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, thầy giáo đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức, hướng dẫn và nhận xét nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Phương pháp CGD có khả năng giúp giáo viên kiểm soát được một cách chắc chắn những việc làm của học sinh, nhằm giúp học sinh làm việc một cách hết sức mà không quá sức, cho nên tạo được chất lượng đồng loạt cao (hầu hết đều đạt khá, giỏi). Chính vì vậy mà giáo viên rất tự tin, yên tâm với việc làm của mình, trình độ tay nghề của đội ngũ giáo viên đã được nâng lên. Trong các hội thảo cũng như khi tiếp xúc với các giáo viên dạy CGD, đa số họ đều có chung nhận xét: Năm đầu dạy khá vất vả, nhất là những tháng đầu, tuần đầu, nhưng đến năm thứ hai thì đều đã dạy nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, đạt hiệu quả cao hơn.

Điều tâm đắc nhất đối với những người làm công tác quản lí giáo dục chúng tôi là mỗi khi đến các trường thực hiện chương trình CGD đều cảm nhận được không khí hoạt động chuyên môn lành mạnh. Chương trình CGD (thông qua sách thiết kế và các đợt tập huấn chuyên môn) đã tạo cho giáo viên giảng dạy đạt kết quả đồng loạt cao. Từ đó mà các thầy cô giáo đều rất phấn khởi, tự hào về nghề nghiệp, yêu nghề hơn, gắn bó thiết tha với nghề hơn. Điển hình là cô giáo Nguyễn Thị Hoài Thanh, giáo viên của trường Tiểu học Chợ Chu, huyện Định Hoá, hai năm liền được phân công dạy lớp 1 CGD, chất lượng đều đạt 100% khá, giỏi. Năm học 2000 - 2001, với niềm tin vào tay nghề của mình, cô đã tự nguyện xung phong đi dạy lớp Một ở một xã miền núi, dân tộc khó khăn nhất huyện để khẳng định tay nghề của mình và chất lượng của chương trình CGD. Đây là một hình ảnh rất xúc động về một cô giáo rất tâm huyết với nghề và với chương trình CGD. Đến với các trường học theo chương trình CGD, điều dễ nhận thấy nữa là ý thức hoạt động chuyên môn của Ban giám hiệu nhà trườn và tình đoàn kết chăm lo cho chất lượng học sinh. Các hiện tượng tiêu cực trong trường đều giảm hẳn. Phụ huynh học sinh cũng rất yên tâm và tin tưởng vào nhà trường khi gửi con em mình đến học và sẵn sàng ủng hộ đóng góp xây dựng và phát triển nhà trường. Tất cả những điều đó đã tạo nên một môi trường rất thuận lợi để phát triển giáo dục bền vững và lành mạnh” [Công nghệ giáo dục bậc Tiểu học, Trung tâm Công nghệ giáo dục. Hà Nội, 2001].

5. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Lào Cai:

Năm học 1994 – 1995, Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai bắt đầu triển khai thực hiện chương trình CGD môn Tiếng Việt lớp Một ở 3 đơn vị: Thị xã Lào Cai, thị xã Cam Đường và huyện Bảo Thắng với tổng số 11 trường, 34 lớp và 1007 học sinh. Năm học 1999 - 2000, Sở GD&ĐT tiếp tục triển khai ở 3 đơn vị trên và mở thêm ở huyện vùng cao Sapa. Đó là những lớp học đầu tiên có 100% học sinh là người dân tộc Dao, H’Mông, Dáy học chương trình CGD môn Tiếng Việt lớp Một. Năm học 2000 - 2001, toàn tỉnh Lào Cai có 10/11 huyện, thị xã, 92 trường tiểu học, 242 lớp và 5.942 học sinh học theo chương trình CGD môn Tiếng Việt lớp Một. Học sinh dân tộc có 2020 em, bao gồm các dân tộc: H’Mông 227 học sinh, Dao 338 học sinh, Dáy 328 học sinh, Nùng 269 học sinh, Tày 774 học sinh, Xa Phó 8 học sinh, Thái 48 học sinh, Cao Lan 2 học sinh, Mường 16 học sinh, Hoa 14 học sinh, Tu Dí 13 học sinh, Pa Dí 8 học sinh, Phù Lá 5 học sinh. Nhiều lớp ở Văn Bàn và một số lớp ở Sapa, Mường Khương, Bát Xát có 100% học sinh dân tộc theo học chương trình CGD môn Tiếng Việt lớp Một. Kết quả học tập của học sinh năm học 2000 - 2001 có 72% đạt loại khá giỏi, 28% đạt loại trung bình và 90% học sinh có vở sạch chữ đẹp. Sau 7 năm thực nghiệm chương trình Tiếng Việt lớp Một tại Lào Cai, ông Đặng Văn Bình, cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai đánh giá:

“Với việc dạy học được thực thi bằng các thao tác, người dạy cũng dùng những thao tác để tổ chức, hướng dẫn học sinh các việc làm cụ thể; người học cũng dùng những thao tác để học. Vì vậy, ngay từ đầu, học sinh đã được học cách học, cách tư duy khoa học. Học sinh là nhân vật trung tâm, các em được tôn trọng, được yêu quý và tự mình làm ra sản phẩm cho mình, không ai làm thay, thầy chỉ tổ chức và hướng dẫn, chứ không làm thay. Cả thầy và trò đều làm việc hết sức nhưng không quá sức. Việc dạy học ở đây diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, vui vẻ, có chất lượng. Học hết lớp Một, các em đã nắm chắc ngữ âm tiếng Việt, cấu tạo từ, các em đọc thông, viết thạo, chữ viết đều, đẹp, rõ ràng và chắc chắn không thể tái mù”.

Ngoài kết quả trong học sinh về kiến thức, kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phương pháp tư duy khoa học và phương pháp học, ông Bình đã khẳng định hiệu quả của CGD với giáo viên và với cả việc chỉ đạo dạy học theo chương trình CCGD: “Đặc biệt, việc dạy học theo chương trình CGD đã góp phần làm cho đội ngũ giáo viên đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp dạy học, thành thạo hơn các thao tác dạy học. Mặt khác, tư tưởng, thành tựu của CGD còn được chúng tôi vận dụng linh hoạt vào công tác chỉ đạo dạy học đối với các lớp dạy theo chương trình CCGD  và bước đầu vận dụng có hiệu quả. Đó là phương pháp thi công bài giảng bằng các việc làm, thao tác cụ thể”.

Cuối bài viết của mình, ông Bình khẳng định: “Chỉ riêng công nghệ dạy Tiếng Việt lớp Một thôi cũng đã là một thành công đáng trân trọng của các nhà khoa học. Trong bài viết này, chúng tôi xin thay mặt cho những người làm công tác giáo dục, xin chúc Giáo sư Hồ Ngọc Đại và những cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Công nghệ giáo dục đạt được nhiều thành công hơn nữa trong nghiên cứu về khoa học giáo dục, đem lại niềm hạnh phúc cho mỗi trẻ thơ khi đến trường”. [Đặng Văn Bình, Bảy năm thực hiện chương trình CGD môn TV lớp Một ở Lào Cai, 2001].

6. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh tỉnh Nghệ An:

Nghệ An là một tỉnh lớn, dân số đông, địa bàn phức tạp, đời sống và trình độ dân trí có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, các dân tộc.

Đặc điểm trên gây nên tâm lí ngại khó, trở ngại cho việc áp dụng mở rộng các thành tựu CGD vào thực tiễn dạy và học ở các trường tiểu học.

Tuy nhiên sau sáu năm chỉ đạo áp dụng chương trình CGD, ông Đậu Văn Đình, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Nghệ An khẳng định tại Hội nghị tập huấn CGD hè năm 2002: “Bộ môn Tiếng Việt 1 – CGD có tính khả thi cao trong việc thực hiện mục tiêu dạy học môn tiếng mẹ đẻ cho học sinh: Học sinh nắm chắc, thực hành nhanh, các kĩ năng đọc, viết được thực hiện khá cơ bản và vững chắc ngay từ cuối lớp Một. Những ưu điểm trên đã góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở các lớp trên”. Và “Có đơn vị miền núi đã mạnh dạn áp dụng cho 100% số trường tiểu học và đã thu được kết quả dạy học cao hơn hẳn so với chương trình hiện hành” [Đậu Văn Đình, Nghệ An với chương trình Công nghệ giáo dục, 2002].

7. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Hà Nam:

Từ năm học 1990 – 1991, Hà Nam đã nhập CGD. Đến năm học 2000 – 2001, 100% học sinh lớp một toàn tỉnh học môn Tiếng Việt lớp một, 109 trường với 1.120 lớp và 40.154 học sinh học môn tiếng Anh. Báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nam đánh giá về hai môn học này như sau: “Chất lượng môn tiếng Việt lớp một rất tốt. Học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tốt, nắm chắc về ngữ âm và luật chính tả”. “Môn tiếng Anh các lớp 3, 4, 5 rất phù hợp với học sinh, thiết kế khoa học, đủ cho học sinh nhận biết và bước đầu giao tiếp thông thường trong sinh hoạt và học tập” [Trích báo cáo Tiếp nhận Công nghệ giáo dục và Giáo dục môi trường ở tỉnh Hà Nam, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nam, 2006].

8. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Đồng Tháp:

Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp thực hiện CGD được 15 năm, đến 2004, Đồng Tháp vẫn giữ lại một trường tiểu học trọng điểm của tỉnh thực hiện chương trình này song song với chương trình tiểu học mới.

Theo nhận xét của ông Phạm Chí Năng, Giám đốc Sở GD&ĐT Đồng Tháp, “Qua nhiều năm thực thi CGD, chương trình CGD đã đóng góp rất nhiều trong đào tạo và giáo dục học sinh, nâng cao hiệu quả đào tạo. Nhất là Văn – Tiếng Việt, các em học rất giỏi, rất vững chắc, viết câu đúng ngữ pháp, khả năng cảm thụ văn học và viết văn của các em rất tốt. Hai môn học này, ngoài việc rèn kĩ năng cho các em còn giúp các em có được tư duy rất tốt|: nhiều sáng tạo, giàu tưởng tượng và đầy tình cảm”.

Ông Năng khẳng định, phương pháp CGD đã làm đổi mới phương pháp cũ tồn tại bao nhiêu năm qua, và còn giúp cho giáo viên không bỡ ngỡ khi tiếp cận với đổi mới phương pháp của chương trình sau 2000: “Chương trình CGD đã góp phần vào việc đổi mới giáo dục tiểu học từ nhiều năm nay. “Thầy thiết kế, trò thi công” – đó là phương châm dạy và học của CGD từ khi bắt đầu triển khai CGD. Thầy là người tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, không nhồi nhét. Cách làm ấy đã ăn sâu vào giáo viên, tránh được thầy nói – trò nghe, thầy đọc – trò chép của phương pháp truyền thống trước đây. Nhờ đó, khi tiếp cận chương trình giáo dục mới, giáo viên không gặp bỡ ngỡ, khó khăn”.

Cũng qua dạy theo CGD, sự hiểu biết và tay nghề của giáo viên ngày càng nâng cao. Nhiều giáo viên đã đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện (thị xã), cấp tỉnh nhiều năm liền, 100% giáo viên đang dạy CGD đạt giáo viên dạy giỏi các cấp.

Thêm vào đó, mối quan hệ thầy – trò cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực, dân chủ, bình đẳng và gắn bó hơn: “Qua nhiều năm dạy theo phương pháp CGD, giáo viên cho biết mối quan hệ thầy và trò có thay đổi. Thầy – Trò bình đẳng, thầy không áp đặt và sẵn sàng đón nhận những thắc mắc hoặc không đồng tình của học sinh. Vì vậy, học sinh rất tự tin và am hiểu kiến thức mới một cách thoải mái. Từ đó, tình cảm thầy trò càng thêm gắn bó” [Trích báo cáo Đồng Tháp thực hiện chương trình Công nghệ giáo dục, Phạm Chí Năng – Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp].

9. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Phú Thọ:

Chương trình Công nghệ giáo dục được thực hiện ở tỉnh Phú Thọ từ năm học 1992 – 1993. Theo ông Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ: “Chương trình Tiếng Việt CGD tự bản thân nó đã tạo cho giáo viên thực hiện được đổi mới phương pháp dạy học.

Công nghệ giáo dục lấy trẻ em làm nhân vật trung tâm của nhà trường, học sinh được tự  mình tham gia tích cực vào việc lĩnh hội kiến thức cơ bản của sách giáo khoa.

Phương pháp CGD có khả năng giúp giáo viên kiểm soát được việc làm của học sinh và giúp học sinh tự giải quyết các vấn đề của kiến thức và thực tế mà giáo viên đặt ra.

Học theo chương trình CGD, học sinh nắm chắc kiến thức nhanh hơn, giáo viên dạy nhẹ nhàng hơn và dạt hiệu quả hơn” [Trích báo cáo Tỉnh Phú Thọ với Công nghệ giáo dục, Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ, 2002].

10. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Thái Bình:

Thái Bình đã triển khai Công nghệ giáo dục bậc Tiểu học từ năm học 1993-1994 tại 10 trường thuộc 8/8 huyện / thị, với 34 lớp Một, học 2 môn Tiếng Việt và Toán. Mỗi năm, Thái Bình tiếp tục triển khai thêm một khối lớp, đồng thời củng cố và mở rộng khối lớp đã thực hiện. Đến năm 1998, sau 5 năm đã triển khai xong CGD ở cả 5 khối lớp với các môn Tiếng Việt, Toán, Giáo dục lối sống, Tiếng Anh.

Năm học 2000 – 2001 có 14 trường với 138 lớp gồm 4580 học sinh. Năm học 2001 – 2002 thực hiện ở 17 trường với 220 lớp gồm 7357 học sinh.

Ông Đào Việt Khanh, Trưởng Phòng Tiểu học – Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình nhận xét:

“Qua 9 năm thực thi CGD theo hai phương thức “trọn gói” và “lồng ghép”, Thái Bình có thể khẳng định thế mạnh của CGD là:

- Tư tưởng CGD mang tính khoa học – Dân chủ – Nhân văn sâu sắc

Tính khoa học thể hiện ở chỗ, đó là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa công nghệ dạy (người thầy thiết kế, tổ chức) và công nghệ học (trò thực hiện hệ thống các thao tác, tự chiếm lĩnh tri thức). Đồng thời, CGD thể hiện rõ tính dân chủ - nhân văn sâu sắc trong quá trình giáo dục “Đặc biệt tôn trọng và chú ý đến sự phát triển của trẻ em – nhân vật trung tâm trong nhà trường tiểu học”.

Coi trọng chủ thể học sinh, CGD cũng đã đặt đúng vị trí quan trọng không thể thiếu được của người thầy giáo. Bởi vì, hơn bất cứ lĩnh vực nào, CGD đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn vững chắc, tay nghề sư phạm cao để thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của thời kì mới, thời kì của nền kinh tế tri thức công nghệ hoá – hiện đại hoá.

- Phương pháp dạy học của CGD là phương pháp hiện đại, tiên tiến, có cơ sở lí luận khoa học

Đây là một thế mạnh, ưu việt của CGD, vì nó phát huy một cách tích cực, triệt để vai trò chủ thể nhận thức của học sinh Cơ chế “Thầy thiết kế - Trò thi công”, - Thầy tổ chức, hướng dẫn và làm mẫu, Trò hoạt động qua các thao tác cơ bắp và đặc biệt là thao tác trí tuệ để tự làm ra sản phẩm giáo dục – đã trở thành phương châm của hoạt động dạy và học. Điều này đã trở thành động lực và định hướng cho phong trào cải tiến phương pháp dạy-học ở các bậc học, cấp học khác.

- Hiệu quả thực tiễn CGD

a) Học chương trình và sách CGD, các em được phát triển một cách toàn diện hơn

Các em được trang bị những khái niệm khoa học cơ bản, hiện đại.

Các em được phát triển nhiều về tư duy lôgic, tư duy hình tượng. Các em biết các thao tác tư duy, so sánh, phân tích, tổng hợp, tưởng tượng, liên tưởng, khái quát hoá, mô hình hoá.

Các em được rèn các kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, quan sát, nói, viết, tính toán.

Chẳng hạn, học Văn lớp Hai, các em được phát huy trí tưởng tượng một cách rất tích cực, triệt để và có hiệu quả vì cách dạy của Trung tâm CGD có bài bản, có cơ chế khoa học và hữu hiệu. Học Văn lớp 5, các em biết tìm ý ở ngoài lời, biết đồng sáng tạo với tác giả, biết viết văn bản của tác giả thành tác phẩm của mình.

Cái được lớn nhất là sự phát triển năng lực tư duy và biết phương pháp học tập. CGD đã dạy cho các em hướng suy nghĩ, cách suy nghĩ, cách học tập, cách làm việc một cách khoa học để các em tự làm ra sản phẩm của chính mình.

Học lên THCS, các em được nhà trường đánh giá là có nhiều nét nổi trội, có nhiều học sinh đạt học lực giỏi.

Vào cuộc sống, các em mạnh dạn, tự tin, nhanh nhẹn, hoạt bát và thông minh sáng tạo.

b) Chất lượng giảng dạy và sự trưởng thành của đội ngũ giáo viên

Được bồi dưỡng, tập huấn tiếp cận với nội dung chương trình, sách giáo khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học tiên tiến, đội ngũ giáo viên dạy CGD rất phấn khởi và vươn lên không ngừng.

Điều quý nhất đối với các thầy cô là được tiếp cận với một phương pháp dạy học mới, hiện đại, tiên tiến, có cơ sở lí luận vững chắc, được thực tiễn kiểm nghiệm.

Giáo viên dạy theo chương trình CGD có tay nghề sư phạm vững vàng, được học sinh và cha mẹ học sinh tin yêu, được xã hội chấp nhận.

Tuy bước đầu còn có những bất cập, còn phải làm việc khá vất vả, nhưng sau một thời gian không dài, đội ngũ giáo viên ngày càng thấy hứng thú, gắn bó hơn với CGD, không muốn, thậm chí khó có thể trở lại lối dạy cổ truyền.

Thái Bình xin bày tỏ lòng biết ơn đối với CGD, trong nhiều năm qua nhờ thực hiện CGD mà đã có những đổi mới rất đáng kể về cách dạy, cách học ở tiểu học. Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng học sinh giỏi nói riêng cũng nhờ đó mà có những tiến bộ rõ rệt. CGD cũng đã góp phần tích cực vào việc phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở địa phương chúng tôi” [Đào Việt Khanh, Phương pháp dạy học ở bậc tiểu học tỉnh Thái Bình, 2002].

11. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Bắc Cạn:

Bắc Cạn là tỉnh miền núi phía Bắc, dân cư thưa thớt, 85% là người dân tộc thiểu số ít người. Từ năm 1992, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Thái thực hiện chương trình Công nghệ giáo dục. Đến năm 1997 tái lập tỉnh Bắc Cạn, chương trình CGD vẫn tiếp tục được duy trì ở Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai – thị xã Bắc Cạn.

Ông Nguyễn Văn Bền, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Cạn nhận xét về sự trưởng thành về tay nghề của đội ngũ thầy cô giáo và ý kiến của phụ huynh học sinh như sau: “Giáo viên dạy theo chương trình CGD tay nghề được nâng cao, phương pháp thuần thục, nhanh, nảy sinh nhiều sáng kiến kinh nghiệm, đưa chất lượng Môn tiếng Việt lên cao hơn. Học sinh học theo chương trình này cũng tiến bộ nhanh chóng, kết quả đạt khá giỏi nhiều hơn so với lớp học chương trình đại trà.

Phụ huynh học sinh đánh giá cao về chất lượng giảng dạy theo chương trình CGD, gửi học sinh đến học theo chương trình này, phụ huynh rất yên tâm, tin tưởng” [Nguyễn Văn Bền, Sự phát triển chương trình Công nghệ giáo dục của tỉnh Bắc Cạn, 2002].

12. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Thanh Hoá:

Tính đến năm 2002, Thanh Hoá đến với CGD được 12 năm. Năm học 2001 – 2002, Thanh Hoá vẫn áp dụng việc dạy môn Tiếng Việt lớp Một – CGD cho hơn 24 ngàn học sinh. Tỉ lệ học sinh đạt khá giỏi chiếm 76%. Số yếu kém chiếm tỉ lệ 2%. Tất cả 16 huyện, thị, thành phố khu vực miền xuôi với hơn 310 trường, 812 lớp đều học chương trình Tiếng Việt 1 – CGD của Trung tâm CGD. Theo nhận định của ông Lương Kỳ, Trưởng Phòng Giáo dục Tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, “Những thầy cô giáo, những cán bộ quản lí giáo dục tự nguyện tìm đến với tư tưởng CGD vì tìm thấy ở đó những vấn đề hoàn toàn mới mẻ và phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam. Khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui”, “Thầy thiết kế - Trò thi công”, hệ thống “thao tác” và “việc làm” của thầy và trò... đã loé lên trong tư duy của nhiều thầy cô giáo, các cán bộ chỉ đạo những cách làm mới, cách dạy mới mà rõ ràng là có kết quả cao hơn so với các hình thức dạy học truyền thống trước đây.

Mỗi năm qua đi, đội ngũ những thầy cô giáo theo CGD ngày một đông đảo. Không ai bảo ai, nhưng mọi người đều có một tâm niệm chung: Phương pháp dạy học của Trung tâm CGD có tác dụng làm cho học sinh học chương trình này hoạt bát hơn, chủ động, tích cực hơn. Học sinh được tham gia một cách chủ động, tích cực, tự giác vào quá trình của bài học. Nhiều học sinh học chương trình CGD cảm thấy tự hào vì những bước phát triển mới trong tư duy, trong giao tiếp, trong phương pháp học tập, trong lối sống của mình... Phương pháp của CGD đã lôi cuốn được đông đảo lực lượng phụ huynh tham gia tìm hiểu và nhiều người rất đỗi tự hào vì con em mình đang được theo học chương trình CGD. Chất lượng tri thức được phát triển nhanh hơn và vững chắc hơn. Lối học vẹt đã được thay thế bằng tính tích cực, tự giác có thể kiểm soát được của cả thầy và trò. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, những học sinh lứa CGD có tư duy sáng tạo hơn hẳn so với phương pháp giảng dạy của chương trình học tập khác ở bậc Tiểu học.

Nhiều giáo viên Thanh Hoá vẫn tự hào lớn lên và trưởng thành về mặt nghiệp vụ nhờ được dạy theo phương pháp của Trung tâm CGD” [Lương Kỳ, Tư tưởng Công nghệ giáo dục tiếp tục phát triển và đâm hoa kết trái, 2002].

13. Đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Quảng Bình:

Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bố Trạch, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình, ông Phan Sắc Long, là người luôn mong muốn nước nhà có một nền giáo dục đổi mới ngang tầm thời đại. Nhập CGD vào Bố Trạch, Quảng Bình từ năm học 1986 – 1987, ông Long luôn say sưa với phương án này. Nghiên cứu chương trình CCGD sau năm 2000, ông Long nhận thấy Cho đến bây giờ, chưa có một thành tựu giáo dục nào ngang tầm CGD cả về lí luận và thực tiễn. CGD sống mãi trong lòng những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, với định hướng đổi mới giáo dục trong thế kỉ XXI. CGD là một giải pháp giáo dục chân chính, đích thực của đất nước và của thời đại”. CGD đáng được coi là một thực thể khoa học cho cuộc CCGD mới. Nếu như các nhà chức trách giáo dục vững tin hơn để tìm quyết sách, tập hợp thêm được các nhà khoa học có tài và có tâm, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa, CGD chắc chắn sẽ là một đề án đổi mới giáo dục của nước nhà vào thế kỉ XXI” [Phan Sắc Long, Công nghệ giáo dục, giải pháp đổi mới giáo dục chính hiệu của đất nước và của thời đại, 2002].

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED