Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Một số đánh giá của giáo viên về Công nghệ giáo dục

Sau khi dạy theo Công nghệ giáo dục (CGD), có giáo viên nói: “Sau 30 năm đi dạy học nay mới thực có nghề”. Có giáo viên cảm ơn CGD đã đem đến cho họ lòng yêu nghề và lòng yêu mến của học sinh dành cho họ.

 

 

GS.TSKH Hồ Ngọc Đại

 

Dưới đây là tiếng nói của các thầy cô dạy theo CGD.

Cô Lê Thị Cúc, thành phố Huế:

“Nếu tính tuổi nghề, tôi đã 23 năm tuổi. Hai mươi ba năm trong nghề dạy học với ba chương trình và sách giáo khoa khác nhau. Song chương trình để lại trong tôi một ấn tượng khó quên nhất vẫn là chương trình CGD của thầy Hồ Ngọc Đại.

Cảm ơn thầy! Thầy đã cho giáo viên chúng em biết chương trình dạy học thật sự là một công nghệ.

Tiếc thay cho những ai đi dạy nhưng chưa một lần được dạy chương trình này!” [Lê Thị Cúc, Trường Tiểu học Lê Quý Đôn – Tp. Huế, Trích trong Kỉ niệm 20 năm thành lập trường tiểu học Lê Quý Đôn].

Cô Phạm Thị Tuyết – Giáo viên dạy Toán lớp 1-2 Trường PTCS Chu Văn An, Hải Phòng:

“...Qua hai năm dạy thực nghiệm, tôi nắm bắt được nhiều điều mới mẻ về phương pháp dạy học, nhất là nguyên tắc thầy là người hướng dẫn tổ chức cho trò hoạt động học tập... Học sinh của tôi học được khá nhiều kiến thức, hiểu chắc chắn, hiểu được bản chất vấn đề... Các em có điều kiện phát triển tư duy, nhân cách tốt hơn qua cách dạy học theo quy trình kiểu đại công nghiệp. Quan điểm của tôi trong việc đối xử với trẻ em là phải tôn trọng, nhẹ nhàng, tế nhị, gây được hứng thú cho trẻ... Tôi xin tiếp tục dạy thực nghiệm, nhưng tôi muốn các cấp lãnh đạo quan tâm tới công việc của chúng tôi, giúp chúng tôi tăng thêm sự say mê, nhiệt tình của tuổi trẻ đối với công trình khoa học này”.

Lê Thị Thập – giáo viên dạy Tiếng Việt lớp Một Trường PTCS Lê Văn Tám, Hải Phòng:

“...Sau hai năm dạy, tôi thấy phương pháp thực nghiệm có tác dụng phát triển trí thông minh cho học sinh. Thông qua các việc làm, các chuỗi thao tác, học sinh tiếp thu bài tốt, chắc chắn, tránh được tính ỷ lại và cầu may. Học sinh của tôi chăm học. Các em nhanh nhẹn, hồn nhiên, lễ phép,... Nội dung sách giáo khoa phong phú, không tẻ nhạt, nhưng còn hơi nặng nề...”.

Cô Đào Thị Hà – Giáo viên Tiếng Nga Trường Lê Văn Tám, Hải Phòng:

“Chúng tôi thấy phương pháp giảng dạy này có ưu điểm rất lớn là hoàn toàn khoa học, không áp đặt, phát huy tối đa tính tích cực và năng lực của học sinh. Nhìn chung, lượng kiến thức phù hợp, đại đa số học sinh nắm bài tốt: nghe đúng, đối đáp nhanh, chuẩn xác, một số em có năng lực trội hẳn... Tâm đắc nhất là quan điểm đối xử trân trọng, phát huy tối đa nhân cách trẻ em. Nó khác hẳn lối giáo dục cổ truyền... Nó giúp học sinh trở thành lớp người tự chủ cao, có bản sắc riêng”.

– Ông Hà Văn Chư, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Xuân Hoà, Vĩnh Phúc, viết:

Từ năm học 1985 - 1986, Xuân Hoà, Vĩnh Phúc đã triển khai việc dạy và học theo sách giáo khoa và thiết kế lớp Một của Trung tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông, kết thúc năm học 1990-1991, theo báo cáo của địa phương, kết quả như sau:

“Học sinh thực nghiệm mạnh dạn, hoạt bát, tự tin hơn học sinh lớp 1, 2, đại trà.

-       Năng lực đọc:

+ Học sinh thực nghiệm: Nắm khá chắc ngữ âm và vần đã học, kể cả vần khó. Đọc khá rõ ràng, chính xác. Phân biệt được các dấu chấm, phẩy, đọc khá nhanh, tốc độ trung bình đạt 40 tiếng/phút.

+ Học sinh đại trà: Nắm được vần đã học, một số còn chậm, lầm lẫn các vần khó, thiếu chính xác, đọc chậm. Tốc độ trung bình đạt từ 15 – 20 tiếng/phút.

-       Năng lực viết và làm toán của học sinh thực nghiệm hơn hẳn học sinh đại trà, đặc biệt năng lực tư duy của học sinh lớp Một hơn hẳn học sinh đại trà, các em tìm từ và đặt câu cho vần mới học một cách dễ dàng như: Kẹo gôm ngon (vần eo); Đàn sếu bay (vần êu); Bố đi Tiệp (vần iêp); Yên lặng cho bà nghỉ (vần ăng); Quả hồng xiêm (vần ông); Trạm kiểm soát (vần oat)v.v...” [Kết quả triển khai CGD ở Xuân Hòa, Hà Văn Chư, Đại học Sư phạm Hà Nội 2].

Về khả năng đào tạo đội ngũ giáo viên, ông Chư nhận xét như sau: “Về giáo viên, không chỉ người mới ra trường mà cả những người dạy đại trà lâu năm, người dạy hợp đồng đều thực hiện tốt chương trình thực nghiệm, do được huấn luyện theo đúng quy trình công nghệ và với lòng nhiệt tình, đầy trách nhiệm đối với trẻ em ở mỗi giáo viên. Đến nay, ở Xuân Hoà và Cao Minh, đội ngũ giáo viên cấp 1 đã có tay nghề khá vững vàng, là nòng cốt để thực hiện chương trình thực nghiệm. Nhà trường và cha mẹ học sinh rất yên tâm về đội ngũ giáo viên lớp 1 này”.

– Ông Đỗ Ngọc Quyền – Hiệu trưởng trường cấp I Xuân Hoà, Vĩnh Phúc, bài viết ngày 20-10-1990:

“Qua dự một số giờ, tìm hiểu sách giáo khoa và tài liệu thiết kế dạy học về môn Tiếng Việt trong việc phát huy trí tuệ của học sinh, tôi thấy:

-       Chống lối học vẹt, từ tranh ra tiếng (sách CCGD: nhìn tranh biết chữ).

-       Đảm bảo giữa: giảng – ôn – luyện trong một tiết học.

-       Học sinh nắm được luật chính tả ngay từ lớp 1, cơ sở quan trọng đối với các lớp trên.

-       Trẻ học đến đâu biết đến đó, sách mới là những câu, bài văn xuôi của bài tập đọc chứa những vần, âm đã học, giúp trẻ dễ nhận biết tiếng, chống được lối mòn sáo rỗng ở sách cũ đưa ra những bài khoá, ca dao không thiết thực.

-       Trong quá trình dạy âm vị, học sinh nắm được bản chất của Tiếng, sách cũ chỉ là hiện tượng mà thôi, còn lờ không đề cập.

-       Đúng với phương pháp mới là: “Thầy tổ chức, Trò hoạt động” trên lớp, đảm bảo được nguyên tắc “chơi mà học, học mà chơi” đối với học sinh lớp 1.

-       Về môn Toán: Có một cô giáo lớp 2 dạy chương trình cải cách, được bàn giao cho các em lớp 1 thực nghiệm lên học lớp mình, nói với tôi: “Khi ra bài toán bằng lời (toán đố), các em hỏi: “Thưa cô, có phân tích bằng sơ đồ Ven không ạ?”, tôi giật mình không hiểu sơ đồ Ven là gì, đành phải trả lời: “Các em cứ làm bình thường”.

Điều phải suy nghĩ là trình độ giáo viên lớp 2 do chưa được bồi dưỡng nên chưa nắm bắt được cái mới trong giáo dục hiện nay”.

– Ông Phùng Quang Thơm – Hiệu trưởng trường Cao Minh, Xuân Hoà, Vĩnh Phúc: “Không còn mơ hồ gì nữa, trẻ em được học theo nội dung và phương pháp này thật sự biết làm việc trí óc một cách khoa học, từ yếu kém trở thành khá rất nhanh. Tỉ lệ khá giỏi rất cao, hơn hẳn các lớp học theo chương trình cải cách. Sau khi dự giờ của các cô giáo dạy theo chương trình này, nhiều giáo viên khối 1 dạy đại trà mong muốn năm học tới được dạy theo chương trình này”.

– Cô Hà Thị Mứt - Giáo viên dạy lớp Một - Xuân Hòa, Vĩnh Phúc (Phát biểu trong buổi tổng kết năm học với cha mẹ học sinh lớp 1 thực nghiệm tại nhà máy Z 123):

“Qua hai năm dạy chương trình này, so với cải cách, tôi thấy tốt hơn. Học sinh nắm bài chắc chắn, hiểu được bản chất của từng khái niệm, học đến đâu biết đến đó. Năng lực tư duy của các em khá tốt, thực sự biết làm việc bằng trí óc, cơ sở hình thành phương pháp học cho trẻ em cấp I. Tất cả cha mẹ học sinh rất tin tưởng và phấn khởi trước kết quả của con em mình đạt được sau một năm học chương trình thực nghiệm. Khi đã dạy chương trình này thì tôi không muốn dạy chương trình cải cách đại trà nữa. Tôi sẽ làm theo phương pháp mới, nếu còn được nhà trường và phụ huynh tín nhiệm”.

– Cô Đỗ Thanh Huyền - Xuân Hòa, Vĩnh Phúc (Phát biểu trong buổi họp cha mẹ học sinh lớp Một thực nghiệm tại Nhà máy xe đạp Xuân Hoà nhân tổng kết năm học): “Chương trình này rất tốt với những em phát triển bình thường”.

– Ông Nguyễn Minh Giám - Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, Đông Hà, Quảng Trị:

“Về mặt lí luận, chương trình CGD được xây dựng trên cơ sở tri thức khoa học lôgic bằng hệ thống việc làm, thao tác với qui trình rõ ràng, chặt chẽ mà người giáo viên có thể kiểm soát được hoạt động của học sinh ngay trong giờ học. CGD đã trả lại đúng vị thế cho người học và lại càng khẳng định vai trò quan trọng của người thầy. CGD đã góp phần không thể thiếu trong đổi mới phương pháp ở Tiểu học”.

Về nội dung học tập, Hiệu trưởng Nguyễn Minh Giám phát biểu: “Chương trình và nội dung giảng dạy các môn được thiết kế theo một quy trình chặt chẽ, hợp lí, lôgic, khoa học, hiện đại và gắn với thực tiễn, đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước. Đáng trân trọng là bộ môn Văn và Tiếng Việt, hệ thống kiến thức cung cấp cho học sinh từ lớp Một đến lớp Năm theo từng chủ đơn vị kiến thức có liên quan và được nâng cao dần, đi từ bản chất, từ những vấn đề cốt lõi”.

Và ông có những nhận xét rất cụ thể:

“Mạch kiến thức cơ bản của môn Tiếng Việt: tiếng → từ → câu → đoạn → bài.

Mạch kiến thức môn Văn: dựng hình tượng → liên tưởng tìm nghĩa bóng → tìm chủ đề tư tưởng → tìm ý.

Ngay từ lớp Một, các em đã làm quen với ngữ âm học cơ bản, làm quen với luật chính tả: k/c/q; ng/ngh/; g/gh; nguyên âm đôi.

Vì vậy, càng lên các lớp trên các em viết ít sai lỗi chính tả, nắm được bản chất âm thanh, ngữ nghĩa của Tiếng Việt một cách chắc chắn.

Đối với bộ môn toán: Nội dung kiến thức môn Toán khá hiện đại, thiết thực, đầy đủ cho việc tiếp tục học lên trung học cơ sở và tiếp thu chương trình mới hiện đại.

Đối với bộ môn Anh văn:

-      Chương trình được sắp xếp một cách hợp lí, lôgic, phù hợp với lứa tuổi học sinh.

-      Nội dung kiến thức đơn giản vừa phải về tiếng Anh, tri thức sử dụng tiếng Anh giao tiếp gần gũi đời sống có chọn lọc giúp học sinh hiểu biết về xã hội tự nhiên, văn hoá con người Anh.

-      Phần luyện tập phong phú, đa dạng và coi trọng đúng mức việc rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.

-      Sách thiết kế rõ ràng, cụ thể, thiết thực”.

Có sách thiết kế, kết quả giáo dục không còn phụ thuộc vào trình độ của từng giáo viên, không chịu sự rủi ro khi gặp giáo viên tay nghề kém. Về vai trò của thiết kế, thầy Giám viết: “Phương pháp được thể hiện thông qua thiết kế, tránh được chủ quan cá nhân giáo viên, nhờ thế mà mục tiêu nội dung, kiến thức đến với học sinh không có những sai sót đáng tiếc”.

Nhận xét về phương tiện học tập, thầy Giám cho rằng chương trình CGD sử dụng tốt các khái niệm được học như phương tiện học khái niệm mới, thêm vào đó, chương trình CGD không yêu cầu sử dụng nhiều đồ dùng dạy học đòi hỏi kinh phí cao: “Học sinh được huy động tối đa những hiểu biết vốn có cũng như kiến thức cũ để huy động vào xây dựng khái niệm mới cũng như rèn các kĩ năng tính toán. Việc sử dụng các trang thiết bị, đồ dùng dạy học cũng nhẹ nhàng, linh hoạt, tận dụng những cái có sẵn trong đời sống gần gũi nên tiết kiệm được nguồn kinh phí lớn”.

Về chất lượng học sinh, Hiệu trưởng Nguyễn Minh Giám so sánh: “Chất lượng học sinh lớp một rất bền vững, không có tình trạng đọc, nói, viết yếu kém và tái mù, đó là điều nổi trội hơn so với chương trình đại trà”. Thầy Giám rất tự hào về thành tích của trường mình, khi tỉ lệ khá giỏi hằng năm đạt tới 85%. Học sinh thi tốt nghiệp bậc Tiểu học không có em nào đạt mức trung bình, và tỉ lệ học sinh giỏi cấp tỉnh khá lớn:

“Năm học 2000 – 2001 có 18 em đạt giải cấp tỉnh, trong đó có 5 giải nhất.

Năm học 2001 – 2002 có 15 giải cấp tỉnh.

Năm học 2002 – 2003 có 16 giải cấp tỉnh.

Năm học 2003 – 2004 có 14 giải cấp tỉnh.

Năm học 2004 – 2005 có 8 giải cấp tỉnh.

Năm học 2005 – 2006 có 25 giải cấp tỉnh”

[Trích báo cáo Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc thị xã Đông Hà – Quảng Trị 20 năm gắn bó với Công nghệ giáo dục, Lê Minh Giám – Hiệu trưởng].

Tây Ninh nhập CGD ngay từ năm học 1985-1986. Trường Thực nghiệm Giáo dục phổ thông Tây Ninh trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh đã phát triển thực nghiệm hết bậc THCS (lớp 9).

Nhận định của thầy Cao Đức Hòa, Hiệu trưởng của trường sau 28 năm thực hiện CGD:

“Trường Thực nghiệm Tây Ninh thực hiện Công nghệ giáo dục từ năm 1985 cho cả hai bậc học: Tiểu học và Trung học cơ sở. Các môn thực hiện với bâc Tiểu học là: Tiếng Việt, Văn và Giáo dục lối sống. Các môn thực hiện ở bậc THCS là: Tiếng Việt, Văn, Toán, Giáo dục lối sống và Sinh vật. Qua thời gian 28 năm thực hiện CGD, chúng tôi thấy:

-         Về phía học sinh:

+  Học sinh chấp nhận được chương trình một cách dễ dàng. Học sinh chiếm lĩnh tri thức thông qua việc làm của chính bản thân các em.

+ Học sinh thích học, thích đến trường, yêu trường lớp, thầy cô , bạn bè. Học sinh tự tin, chủ động trong mọi hoạt động học tập.

+ Học sinh được phát triển tối ưu khả năng của bản thân , phát huy tư duy sáng tạo, hình thành năng lực hợp tác cao trong quá trình học tập.

+ Đặc biệt, ở bậc Tiểu học, chương trình CGD giúp học sinh có được một nền móng chắc chắn, học sinh có sự phân hoá cao ở bậc học tiếp theo.

+ Học sinh có khả năng hòa nhập và thích nghi rất nhanh.

+ Điều quan trọng, học sinh không chịu áp lực về điểm số và thi cử.

-         Về phía giáo viên:

+ Giáo viên tiếp thu chương trình một cách hào hứng, hiểu được ý tưởng của tác giả và thực hiện hiệu quả thông qua quy trình thiết kế rõ rang, tường minh của chương trình.

+ Bản thiết kế là một hệ thống việc làm khoa học, đưa ra một quy trình cụ thể giúp giáo viên thực hiện một cách chắc chắn. Hiệu quả dạy học tối thiểu đảm bảo được chuẩn kiến thức của Bộ yêu cầu. Điều đáng lưu ý là chất lượng dạy học giữa các lớp không có độ vênh nhiều, sản phẩm giáo dục đạt tính đồng đều và an toàn.

+ Giáo viên yêu thích phương pháp dạy học CGD, giáo viên tổ chức cho học sinh học thông qua hệ thống Việc làm, do vậy có thể kiểm soát được quá trình học tập, kiểm soát được kết quả học tập của học sinh một cách chăc chắn. Điều đó giúp giáo viên đổi mới phương pháp một cách triệt để.

+ Giáo viên không quá nặng nề về thành tích trong quá trình giảng dạy. Việc dạy học nhẹ nhàng nhưng mang lại hiệu quả cao. Kết quả học tập của học sinh được  đánh giá một cách chặt chẽ, sát thực.

-         Về phía cha mẹ học sinh:

+ Cha mẹ rất ủng hộ chương trình CGD, tin tưởng vào đánh giá của nhà trường.

+ Cha mẹ sẵn sàng hợp tác với nhà trường trong mọi hoạt động nhằm nâng cao chất lượng  giáo dục

+ Qua việc thực hiện chương trình CGD, cha mẹ học sinh có ý thức chia sẻ với các hoạt động dạy học của nhà trường, hiểu những việc làm của con em mình. Trên cơ sở đó quan tâm và có trách nhiệm phối hợp cùng nhà trường trong quá trình giáo dục con em mình” [Cao Đức Hòa, Trường Thực nghiệm giáo dục phổ thông Tây Ninh, vững chắc một con đường, một định hướng. Tây Ninh 6-2013].

Trung tâm Công nghệ giáo dục


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED