Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Đánh giá của Hội đồng Nhà nước về Công nghệ giáo dục


Năm 1990, Chính phủ đã thành lập Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước theo quyết định số 1823/QĐ-KHKT ngày 6/11/1990 của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo để đánh giá Đề tài cấp Nhà nước MÃ SỐ 78-04-026: “Mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” (Phần cấp I phổ thông) do Trung tâm Thực nghiệm giáo dục phổ thông chủ trì, GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại, Giám đốc Trung tâm, làm chủ nhiệm đề tài.

 

 

Nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, GS, PTS Lương Ngọc Toản

Sau hơn một tháng nghiên cứu tài liệu, lắng nghe báo cáo, khảo sát, dự giờ, tiếp xúc giáo viên, phụ huynh, học sinh và cán bộ chỉ đạo ở các cấp, Hội đồng kết luận: Qua thực nghiệm với các kết quả có thể nhận thấy được, mô hình này là một trong những cách làm mới, có tư tưởng khoa học rõ ràng, được thể hiện trong toàn bộ quá trình dạy học  và đã được thực tế chấp nhận, có kết quả đáng tin cậy. Hướng đi, cách làm và bước đi của CGD là thích hợp: Từ nghiên cứu lí luận cơ bản, qua thực nghiệm khoa học ở trung ương đến thực nghiệm diện rộng ở địa phương (sản xuất thử), cuối cùng mới đưa ra đại trà. Đề tài đã làm ra một khối lượng khá lớn các tài liệu lí luận, các sách giáo khoa cho học sinh, các tài liệu cho giáo viên và cho cha mẹ học sinh. Ngoài ra, đề tài đã đào tạo, xây dựng được tập thể đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học ở trung ương, đến cán bộ chỉ đạo, giáo viên ở địa phương.

Hội đồng đề nghị “Công nghệ giáo dục” cần được tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh và vận dụng vào một số loại hình trường như trường chuyên, trường năng khiếu để góp phần đào tạo nhanh những nhân tài cho đất nước. Công nghệ này cũng cần tiếp tục hoàn thiện, tường minh hoá ở một số môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, giáo dục lối sống, đạo đức,...

Mặt khác, đề tài cần tiếp tục nghiên cứu công nghệ cho những địa bàn khó khăn như miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi để có thể giúp cho giáo dục ở những vùng khó khăn này có cách làm hiệu quả hơn.

Cuối cùng, Hội đồng đánh giá đề tài vào loại TỐT và đề nghị khen thưởng thích đáng tập thể nghiên cứu đề tài về những kết quả quan trọng, tinh thần làm việc nghiêm túc, bền bỉ trong nhiều năm qua và kiến nghị Nhà nước cần tiếp tục đầu tư và đầu tư thích đáng về kinh phí, về cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ, nâng cao trình độ cán bộ, chuyên gia qua hợp tác ở trong và ngoài nước để tạo điều kiện cho đề tài tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện và triển khai những nội dung công việc mà Hội đồng đã chỉ ra .

Dưới đây là toàn văn biên bản số 900/KHKT đưa ra vào ngày 4/3/1991:

BIÊN BẢN

ĐÁNH GIÁ NGHIỆM THU CẤP NHÀ NƯỚC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC MÃ SỐ 78-04-026: “Mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” (Phần cấp I phổ thông) do Trung tâm Thực nghiệm giáo dục phổ thông chủ trì, GS.TS. Hồ Ngọc Đại, Giám đốc Trung tâm, làm chủ nhiệm đề tài.


  1. Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước được thành lập theo quyết định số 1823/QĐ-KHKT ngày 6/11/1990 và số 2152/QĐ-KHKT ngày 7/12/1990 (bổ sung 1 uỷ viên hội đồng) của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo.

  2. Hội đồng đã làm việc trên cơ sở các cứ liệu sau:

2.1. Các tài liệu do Trung tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông (TT TNGDPT) cung cấp:

- “Thực nghiệm giáo dục phổ thông” (Giới thiệu tóm tắt kết quả nghiên cứu). Năm 1990.

- “Hướng đi – Cách làm – Thành tựu. Tổng kết 5 năm 1978 – 1983”. Năm 1983.

- “Công nghệ giáo dục – Thành tựu 10 năm 1978-1988”. Năm 1988.

- “Ba câu trả lời”. Năm 1990.

- “Hệ thống thuật ngữ trong công nghệ giáo dục”. Năm 1990.

- “Đề cương thuyết trình trước Hội đồng quốc gia nghiệm thu đề tài mã số 78-04-026 của TT TNGDPT”. Năm 1990.

- Báo cáo tổng kết các bộ môn: Văn, Tiếng Việt, Toán, Tiếng Nga.

- Chương trình, sách giáo khoa các môn học từ lớp 1 đến lớp 5 của TT TNGDPT.

- Thiết kế các môn học của TT TNGDPT. Tài liệu cho giáo viên.

- Sách cho cha mẹ học sinh của TT TNGDPT.

2.2. Đã đi khảo sát, dự giờ, tiếp xúc với học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh và cán bộ chỉ đạo giáo dục ở các Trường, Phòng, Sở ở 3 địa phương:

- Ở Hải Phòng: Trường PTCS Chu Văn An, quận Ngô Quyền, trường PTCS Lê Văn Tám, quận Lê Chân.

- Ở Hà Bắc: Trường PTCS Cánh Thuỵ và trường PTCS Lãng Sơn, huyện Yên Dũng, trường thực nghiệm thị xã Bắc Giang.

- Ở Hà Nội: Trường thực nghiệm Giảng Võ và trường PTCS Kim Đồng thuộc quận Ba Đình.

2.3. Trên cơ sở các tài liệu đánh giá nghiệm thu cấp Nhà nước của các Hội đồng bộ môn Văn và Tiếng Việt, Toán, Tiếng Nga và dự một số buổi làm việc của các Hội đồng này.

2.4. Hội đồng đã nghe GS.TS. Hồ Ngọc Đại, Giám đốc Trung tâm, chủ nhiệm đề tài, báo cáo thuyết trình hai buổi (chiều 19/11/1990 và sáng 7/12/1990). Sau các thuyết trình, các uỷ viên Hội đồng đã hỏi và trao đổi trực tiếp với chủ nhiệm đề tài.

3. Hội đồng đã thực hiện các công việc trên trong thời gian hơn 1 tháng, kể từ sau khi có quyết định thành lập Hội đồng. Cuối cùng, Hội đồng đã tập trung làm việc trong hai ngày, mồng 7 và 8 tháng 12 năm 1990, với sự có mặt của 14 uỷ viên hội đồng (vắng PTS. Lê Khanh, Hiệu trưởng trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, bị ốm và ông Mai Đắc Lượng, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng ở xa không về kịp). Trong hai ngày, sau khi nghe chủ nhiệm đề tài báo cáo thuyết trình, Hội đồng đã nghe nhận xét, đánh giá phản biện của các đồng chí sau:

- GS. Phạm Tất Dong, Phó Ban Khoa giáo Trung ương Đảng,

- PTS. Đinh Gia Phong, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông,

- GS. Dương Tất Tốn, Viện trưởng Viện nội dung phương pháp dạy học, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.

Hội đồng đã nghe từng uỷ viên trình bày các nhận xét, đánh giá của mình, sau đó, Hội đồng đã trao đổi thảo luận và cuối cùng đã nhất trí đánh giá và kiến nghị như sau:

3.1. Mô hình giáo dục ở bậc Tiểu học mà đề tài xây dựng là một trong những cách làm đổi mới giáo dục hiện nay. Nó có tư tưởng khoa học rõ ràng và được thể hiện vào trong toàn bộ quá trình dạy học: xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa cho học sinh, thiết kế cho giáo viên, sách hướng dẫn cho cha mẹ học sinh... Qua thực nghiệm, với các kết quả có thể nhận thấy được, mô hình này đã được thực tế chấp nhận.

3.2. “Công nghệ giáo dục” là tư tưởng mới lần đầu tiên được nghiên cứu về mặt lí luận và được triển khai trong thực tiễn giáo dục của Việt Nam. “Công nghệ giáo dục” đã được cụ thể hoá ở thiết kế dạy học các môn học và đã thực nghiệm ở địa bàn thành phố, một số điểm thuộc địa bàn nông thôn và ba năm gần đây bước đầu triển khai ở diện rộng bộ môn Văn và Tiếng Việt ở huyện Yên Dũng (Hà Bắc) và huyện An Hải (Hải Phòng), cho thấy đây là một trong những cách làm mới, thu được kết quả đáng tin cậy.

3.3. Đề tài đã vạch ra hướng đi, cách làm và bước đi thích hợp: Từ nghiên cứu lí luận cơ bản, qua thực nghiệm khoa học ở trung ương đến thực nghiệm diện rộng ở địa phương (sản xuất thử), cuối cùng mới đưa ra đại trà.

3.4. Qua nghiên cứu, đề tài đã đào tạo, xây dựng được tập thể đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học ở trung ương, đến cán bộ chỉ đạo, giáo viên ở địa phương. Đây cũng là kết quả cần được kể tới bên cạnh khối lượng khá lớn các tài liệu lí luận, các sách giáo khoa cho học sinh, các tài liệu cho giáo viên và cho cha mẹ học sinh như đã nói ở trên.

3.5. Công trình đã được một tập thể không đông (40 cán bộ nghiên cứu khoa học và giáo viên) làm việc nghiêm túc, công phu, kiên trì trong những điều kiện không ít khó khăn.

3.6. Tuy nhiên, “Công nghệ giáo dục” cần được tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh và vận dụng vào một số loại hình trường như trường chuyên, trường năng khiếu để góp phần đào tạo nhanh những nhân tài cho đất nước. Công nghệ này cũng cần tiếp tục hoàn thiện, tường minh hoá ở một số môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, giáo dục lối sống, đạo đức,...

Mặt khác, đề tài cần tiếp tục nghiên cứu công nghệ cho những địa bàn khó khăn như miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi để có thể giúp cho giáo dục ở những vùng khó khăn này có cách làm hiệu quả hơn.

Ban chủ nhiệm đề tài cần phải thấy hết tầm quan trọng của khâu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Không thể chỉ dừng lại ở mức như đã làm, mà phải thực hiện một kiểu đào tạo mới từ ngay trong trường sư phạm (từ chương trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo cho đến hệ thống tổ chức, vv...) cho phù hợp, đồng bộ hoá với mô hình giáo dục mà đề tài xây dựng.

Để tiến hành tốt các công việc trên, phải tiếp tục thu hút được lực lượng đông đảo các nhà khoa học có năng lực, có nhiệt tâm ở các lĩnh vực có liên quan đến những nội dung triển khai của đề tài, đặc biệt là những lĩnh vực mà lực lượng của Trung tâm còn mỏng.

3.7. Trên cơ sở các kết quả mà tập thể nghiên cứu đề tài đã đạt được, Hội đồng nhất trí:

a) Nghiệm thu đề tài.

b) Kiến nghị Bộ cho phép triển khai ở những địa bàn có điều kiện (thành phố, thị xã, thị trấn) như là một trong những phương án giáo dục của nước ta.

c) Để tạo điều kiện cho đề tài tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện và triển khai những nội dung công việc mà Hội đồng đã chỉ ra, Nhà nước cần tiếp tục đầu tư và đầu tư thích đáng về kinh phí, về cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ, nâng cao trình độ cán bộ, chuyên gia qua hợp tác ở trong và ngoài nước.

d) Hội đồng đề nghị Nhà nước, Uỷ ban Khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo khen thưởng thích đáng tập thể nghiên cứu đề tài về những kết quả quan trọng, tinh thần làm việc nghiêm túc, bền bỉ trong nhiều năm qua.

KẾT QUẢ BỎ PHIẾU ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG

(Số uỷ viên hội đồng tham gia bỏ phiếu: 14 người)

  • Số phiếu thu về: 14 phiếu

  • Số phiếu hợp lệ: 14 phiếu

Xếp loại tốt: 13 phiếu

Xếp loại khá: 01 phiếu

Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 1990

Chủ tịch Hội đồng

GS. PTS. Thứ trưởng Lương Ngọc Toản (đã kí)

Ủy viên thư kí Hội đồng

PTS. Đỗ Đức Tín (đã kí)

(kèm theo ảnh scan biên bản gốc)


Xin trích dẫn một phát biểu phản biện của GS. Phạm Tất Dong tại Hội nghị tổng kết nghiệm thu thực nghiệm giáo dục tại Hải Phòng, tháng 11/1990, như một lời kết: Làm tăng chiều cao của thanh niên qua vài thập kỉ, người Nhật đã tạo ra một acceleration (gia tốc). Khi làm cho học sinh lớp Một đọc thông, viết thạo để đến đại học không còn sinh viên viết sai chính tả thì anh Đại đã làm một việc vĩ đại, cũng đã tạo ra một acceleration của Việt Nam [Trích báo cáo Từ cảm nhận đến khẳng định, Nguyễn Trung Chính, nguyên Giám đốc Trung tâm Phương pháp Giáo dục Hải Phòng, 2004].

Trung tâm Công nghệ giáo dục



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED