Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Quy trình tổ chức và triển khai sách giáo khoa Công nghệ giáo dục

Trong sản xuất vật chất có công nghệ. Trong đời sống hiện đại, mọi việc làm đều tiến tới quy trình hóa, và hơn nữa, công nghệ hóa để tạo ra hiệu quả tối ưu, hạn chế rủi ro, tốn kém. Hiện nay, Công nghệ giáo dục (CGD) không còn là điều xa lạ. Công nghệ tổ chức và triển khai Sách giáo khoa (SGK) là một khâu quan trọng của CGD.

 

SGK kết tinh trong mình nguyên lí giáo dục, nghiệp vụ sư phạm: “Về tư duy giáo dục, sách giáo khoa là hình thái vật thể, trực quan, cảm tính của nguyên lí giáo dục, của nghiệp vụ sư phạm” [3, tr. 20].
Trẻ em cần phải qua giáo dục phổ thông để sống được bình thường trong xã hội hiện đại. SGK cần chứa đựng những nội dung phổ thông nhất, ai cũng cần có, nhằm hình thành năng lực sống cơ bản trong xã hội hiện đại. “Mục đích của giáo dục, suy cho cùng, là tạo ra cho mỗi trẻ em năng lực thực tiễn người, đủ để giải những “bài toán” khác nhau trong đời sống thực.” [1, tr. 20].
SGK được hiểu là bộ sách cho học sinh (Sách giáo khoa và Sách bài tập) và sách thiết kế cho giáo viên thi công (Sách giáo viên).
CGD coi SGK là thành tố quan trọng nhất trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay. SGK là công cụ để đổi mới nội dung, phương pháp và cách tổ chức giáo dục. SGK phải do một đội ngũ chuyên nghiệp, chuyên tâm làm. Đội ngũ này tối thiểu phải có năng lực trong 3 lĩnh vực: chuyên ngành (Ví dụ, Toán, Văn, Tiếng Việt…); nghiệp vụ sư phạm (Tâm lí học lứa tuổi, quy luật của việc Học); trình bày vấn đề (Tư duy logic, mạch lạc, có kĩ năng trình bày dưới dạng nói, viết).

Đại biểu các tỉnh về dự Hội nghị tập huấn tài liệu thí điểm Công nghệ giáo dục năm học 2016 - 2017
Công nghệ tổ chức và triển khai SGK Công nghệ giáo dục đi theo quy trình sau:
1.    Nghiên cứu lý thuyết viết sách
Để viết sách giáo khoa, cần có một Tổng chỉ huy theo một đường lối lí thuyết mạch lạc, có sức thuyết phục. Người Tổng chỉ huy có nhiệm vụ tuyển chọn, đào tạo ra một nhóm người đi theo đường lối lí thuyết đó.
Giáo dục trước hết và cuối cùng là dạy người. Cái lõi của người là trí khôn. Cái lõi của trí khôn là khái niệm. Do đó, CGD bắt đầu từ công nghệ hình thành khái niệm mới cho trẻ em. Nhưng trí khôn cũng chỉ là cái lõi của cuộc sống, thậm chí chỉ là phương tiện, nghĩa là vì một cái gì đích thực là cuộc sống. Đó là hạnh phúc. Lí tưởng của cuộc sống là hạnh phúc [2, tr. 210].
Học để làm gì? Học để sống hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày của cá nhân.
Theo CGD, nội dung giáo dục bao gồm 3 lĩnh vực: Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống. Ba lĩnh vực này sẽ được thiết kế thành các môn học và hoạt động giáo dục cho toàn bộ giáo dục phổ thông.
Nội dung giáo dục được sinh thành và phát triển cùng với người học, và quá trình phát triển luôn tạo ra cái mới. Nói cách khác, nội dung giáo dục luôn luôn ở tình trạng đang nảy sinh, đang hình thành, đang phát triển, song song với quá trình phát triển của trẻ em. Nội dung giáo dục quy định phương pháp giáo dục. Phương pháp giáo dục là một chuỗi các thao tác được thiết kế căn cứ vào logic của nội dung giáo dục và quy trình tâm lí của việc học thông qua hoạt động của chính người học.
CGD tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chương trình và SGK: Phát triển, Chuẩn mực, Tối ưu.
•    Phát triển (về chất)
Quá trình giáo dục là quá trình phát triển. Sự phát triển tâm lý và phát triển cơ thể diễn ra hài hòa, tự nhiên. Sự phát triển của nội dung giáo dục tạo ra sự phát triển tâm lý của trẻ em. Nội dung giáo dục có cốt lõi là các khái niệm khoa học. Mỗi môn học là một hệ thống khái niệm khoa học. Hệ thống khái niệm khoa học phát triển từ trừu tượng đến cụ thể. Hệ thống khái niệm được phân tích, thiết kế thành hệ thống các việc làm theo cơ chế lôgic-tâm lý sao cho trẻ có thể tự làm lấy được nhằm chiếm lĩnh chính hệ thống khái niệm đó. Chiếm lĩnh được khái niệm tức là trẻ có năng lực sử dụng khái niệm như một công cụ để tiếp tục học tập và để sống. Bằng cách tự làm, tự chiếm lĩnh các khái niệm khoa học, trẻ sẽ chiếm lĩnh được cả phương pháp học, phương pháp tư duy.
•    Chuẩn mực (hàn lâm)
Nguyên tắc chuẩn mực thể hiện tính hàn lâm của nội dung học tập. Giáo dục nhà trường không thể không hàn lâm. Hàn lâm không đồng nghĩa với sách vở, lí thuyết suông. Hàn lâm thể hiện ở tính ổn định của của nội dung học tập (là thành tựu của loài người, được khẳng định, ít biến động, làm trục chính cho chương trình môn học). Tình hàn lâm còn thể hiện tính hiện đại của nội dung học tập. Nội dung học tập được lấy từ kết quả cuối cùng của các công trình nghiên cứu khoa học. Nguyên tắc chuẩn mực giúp cho trẻ có thể sống tự tin, hòa nhập với các chuẩn mực của xã hội hiện đại.
•    Tối thiểu (về lượng)
Nguyên tắc tối thiểu yêu cầu chỉ chọn các nội dung cần thiết, không thể không có với cuộc sống của trẻ, nhưng không thể học được ở nhà hay trong môi trường tự nhiên. Nguyên tắc tối thiểu sẽ tạo ra sự tối ưu của các nội dung được học, chỉ nhằm phục vụ tốt nhất cho cuộc sống thực của trẻ em, đi theo trẻ suốt đời. Nguyên tắc tối thiểu sẽ tránh được sự quá tải của các nội dung học tập.
2.    Nghiên cứu Mẫu:
Nếu đã có Mẫu (Mô hình), cán bộ viết SGK cần nghiên cứu để nắm Mẫu.
Toàn bộ lí thuyết CGD và quy trình kĩ thuật thực thi được cụ thể hóa bằng một Mẫu điển hình là Tiếng Việt 1, bao gồm sách cho học sinh, cho giáo viên và cho cha mẹ học sinh. Công nghệ học Tiếng Việt 1 rất chặt chẽ. Mọi thao tác đi đến đọc thông, viết thạo đều do học sinh tự làm lấy.  Tài liệu Mẫu được nghiên cứu, thi công và hoàn thiện nhiều năm và đã được khẳng định trên thực tiễn. Toàn thể cán bộ viết sách, bất kể môn học nào, đều nghiên cứu Mẫu trên, trên cơ sở đó rút ra được phương pháp chung và các kĩ thuật cụ thể cho bộ môn của mình.
Mẫu cần được những người viết sách trải nghiệm quá trình thi công trên thực tiễn để cảm nhận thực tiễn chứ không chỉ nghiên cứu tài liệu thuần túy.
3.    Thiết kế chương trình khung:
Chương trình khung cho ta mục tiêu chung cho từng bậc học, chỉ dẫn mỗi bậc học bao gồm mấy môn học và hoạt động giáo dục. Sau đó là mục tiêu từng môn học/hoạt động giáo dục. Mỗi môn học/hoạt động giáo dục bao nhiêu tiết. Chương trình khung cần được phê duyệt trước khi bắt tay vào viết sách. Tuy nhiên, trong khi chưa có chương trình khung được phê duyệt, người làm sách chuyên nghiệp cần chủ động dự tính các phương án và bắt tay vào thực tiễn để xem tính khả thi của phương án đưa ra và thuyết phục các nhà hoạch định chương trình khung đi theo.
4.    Thiết kế đề cương từng môn:
Môn học là hệ thống tuyến tính các khái niệm khoa học. Môn học có nhiều Bài học. Một khái niệm tương ứng với một bài học. Đề cương đưa ra bao nhiêu bài, mỗi bài hình thành khái niệm gì, sản phẩm gì. Mỗi bài bao nhiêu tiết.
Đề cương được viết theo nhóm, mỗi nhóm có nhóm trưởng chủ trì. Sau khi hoàn thành Đề cương, nhóm tác giả “bảo vệ” đề cương tại Trung tâm CGD. Tiếp đó, Đề cương được đọc phản biện bởi một số chuyên gia trong cùng lĩnh vực. Trung tâm CGD tổ chức cuộc họp trao đổi trực tiếp giữa các phản biện, tác giả và nhóm biên tập viên để thấy rõ hướng đi, cách làm và khả năng phối hợp trong quá trình cụ thể hóa đề cương thành sách.
5.    Viết Sách giáo khoa:
Trong quá trình viết sách giáo khoa, Tổng chỉ huy luôn là người Nhạc trưởng, các đồng nghiệp khác là các “nhạc công” và “phản biện” tích cực. “Dàn nhạc” mỗi nhóm một bè cùng hòa với nhau nhịp nhàng, không bỏ qua những nội dung quan trọng cũng như không chơi những bài trùng nhau. Viết SGK phải luôn luôn chú ý tới 3 nguyên tắc Phát triển, Chuẩn mực, Tối ưu. Đặc trưng của chương trình các môn khoa học (Ví dụ, Toán, Lí, Hóa, Sinh…) được xây dựng triệt để theo nguyên tắc Phát triển hệ thống Khái niệm khoa học. Các chương, bài liên kết với nhau, có logic chặt chẽ, tường minh. Các hoạt động giáo dục vẫn lấy Khái niệm làm cốt lõi, nhưng có thể thiết kế dưới dạng Mô đun. Mỗi Mô đun là một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, và không nhất thiết phải dạy lần lượt từng mô đun đến hết. Trong phạm vi nhất định, tùy thuộc vào nhu cầu cuộc sống, có thể dạy bất kì mô-đun nào cũng được.
6.    Viết Sách bài tập:
Sách giáo khoa được ví như người dẫn đường. Sách giáo khoa thành công, thì có thể nói tác giả đã thành công tới 70 – 80%. Nếu Sách giáo khoa viết không hệ thống, không rõ phương hướng, thì không nên viết Sách bài tập vội. Viết Sách bài tập cần tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc Tối ưu. Số lượng bài luyện tập đưa ra cần vừa đủ (tối thiểu) để hình thành khái niệm. Nếu khái niệm đã hình thành, HS sẽ có kĩ năng tương ứng. Không xây dựng bài tập tràn lan, mất thời gian và tạo ra quá tải. Vừa đủ sẽ tạo ra tối ưu. Người viết Sách bài tập phải “cảm nhận” được cái “ngưỡng” đó. Ngược lại, nếu lượng bài tập chưa đến ngưỡng thì khái niệm hình thành không chắc chắn, không có Sản phẩm. Trong trường hợp đó, có thể phải hình thành khái niệm lại từ đầu, còn mất thời gian hơn.
7.    Viết Sách giáo viên:
Sách giáo viên (SGV) chỉ bắt đầu khi đã có Sách giáo khoa và Sách bài tập. Mỗi Tiết học là một chỉnh thể, được khuôn vào trong khoảng thời gian 40 phút. Mỗi Tiết học bao gồm một số Việc làm. Mỗi Việc làm đều ra một Sản phẩm. Tổng số Sản phẩm của một tiết học bằng Mục tiêu đề ra của Tiết học. Tổng số Sản phẩm của các Tiết học bằng Mục tiêu đề ra của Bài học. Tổng số Sản phẩm của các Bài học bằng Mục tiêu của Môn học. Người viết sách phải “quản lí” được Sản phẩm của toàn bộ cuốn sách bằng cách quản lí từ các Sản phẩm nhỏ nhất. Viết SGV phải chú ý quản lí được Việc học trên từng quãng thời gian ngắn thì mới hi vọng có được kết quả học tập như mong muốn ở cuối quá trình. Người viết SGV phải vận dụng được lí thuyết Hoạt động trong thiết kế từng Việc làm của HS. Phải luôn sử dụng được thao tác vật chất, thao tác bằng tay của trẻ. Các thao tác bằng tay vừa tạo hứng thú học tập, vừa làm vững chắc khái niệm trong tư duy của trẻ. Tay nghề đứng lớp của tác giả viết SGV rất cần thiết, nó góp phần làm cho các thao tác mềm mại hơn, ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi hơn.
8.    Biên tập:
Biên tập viên đích thực cần đồng hành cùng tác giả, “làm sống lại” toàn bộ tư tưởng, nội dung kiến thức, phương pháp thể hiện của tác giả nhưng dưới một cái nhìn khác, từ xa, khách quan hơn. Biên tập cần tạo ra cho sách nội dung chỉn chu hơn, dọn dẹp cho gọn gàng, sạch sẽ những chi tiết dư thừa hay chưa bộc lộ chính xác ý của tác giả, làm cho bản thảo chặt chẽ hơn, dưới một hình thức đẹp hơn. Biên tập, thiết kế đích thực sẽ “biến” một “bản thảo” trở thành một “cuốn sách”.
9.    Dạy thí điểm
Trường Thực nghiệm là một bộ phận cấu thành của quá trình nghiên cứu viết SGK. Trường được coi là “Phòng thực nghiệm”, là mắt xích quan trọng trong công nghệ viết sách. Giáo viên đứng lớp phải hoàn toàn trung thành với các bước trong thiết kế. Trong quá trình “thi công”, họ cần ghi chép lại kết quả qua nhật kí giờ dạy và đóng góp ý kiến cho tác giả để điều chỉnh sách và thiết kế.
10.    Dự giờ, đánh giá:
Nhóm tác giả dự giờ thi công, trao đổi với giáo viên đứng lớp, giải thích, dạy mẫu khi cần. Dự giờ, theo dõi thiết kế phải làm từng bước cần làm thật cẩn thận, sát sao, chuyên tâm, tỉ mỉ.
Qua từng thời điểm, nhóm CBNC đo nghiệm kết quả trong học sinh dưới hai hình thức: phỏng vấn trực tiếp và làm bài viết.
Đánh giá kết quả thực nghiệm nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, khả năng chấp nhận sách và thiết kế của giáo viên và học sinh. Đánh giá được thực hiện cuối mỗi bài học, sau một học kỳ và cuối năm học để điều chỉnh sách cho phù hợp với học sinh. Sách học sinh và sách giáo viên phải thể hiện được nội dung đánh giá và phương pháp đánh giá. Trang bị cho học sinh kỹ năng tự đánh giá cũng được thể hiện trong thiết kế.
Phương thức đánh giá: Có thể cho điểm, hoặc xếp loại A, B, C, D, nhưng quan trọng nhất là hai mức độ: Làm được và Không làm được. Giáo viên cần giúp trẻ làm được. Nếu không làm được thì làm lại để làm được mới thôi.
11.    Điều chỉnh sách và thiết kế:
Sau khi theo dõi quá trình thi công, trao đổi với giáo viên đứng lớp, đánh giá kết quả học tập của HS, tác giả cần điều chỉnh sách và thiết kế. Thực tế, việc điều chỉnh diễn ra cùng với quá trình thi công (tức là ngay sau khi có phản hồi), để đến khi kết thúc năm học, bản thảo phải sẵn sàng để đem đi biên tập, in ấn, phát hành cho kịp vào năm học mới. Thông thường, bản thảo đã chỉnh sửa cần hoàn tất vào đầu tháng 6 hằng năm. Quá trình biên tập, in ấn, phát hành cũng không được kéo dài quá 2,5 tháng. Giữa tháng 8 sách và thiết kế phải đến tay giáo viên và HS.
Quy trình dạy thí điểm, dự giờ, đánh giá, điều chỉnh sách và thiết kế diễn ra tối thiểu 3 vòng trong 3 năm học thì mới tin cậy được.
12.    Triển khai từng bước ra địa phương
Muốn sách vào được cuộc sống thực trong nhà trường thì phải có công nghệ chuyển giao. CGD cần có một đội ngũ cốt cán thực thi việc này.
Trước tiên, phải tổ chức và đào tạo nhóm giảng viên Cốt cán trung ương. Cốt cán trung ương sẽ tập huấn lại cho Cốt cán địa phương. Cốt cán địa phương sẽ tập huấn cho Giáo viên đứng lớp trực tiếp. Tham gia vào đội ngũ cốt cán đều có đại diện là Cán bộ quản lí các cấp (cấp Bộ, cấp Sở, cấp Phòng, cấp Trường). Họ không có vai trò dạy học sinh trực tiếp nhưng lại quyết định sự thành bại của việc triển khai. Kinh nghiệm triển khai thí điểm cho thấy nếu nơi nào cán bộ quản lí vào cuộc có trách nhiệm thì nơi đó thành công. Trong việc triển khai, do tính chất “tam sao thất bản’ thường xảy ra nên mọi “mắt xích” đều cần được giám sát chặt chẽ về mặt chuyên môn. Tổng chỉ huy và nhóm tác giả phải luôn chủ động, trách nhiệm, giám sát từng khâu của quá trình, và họ cần được hỗ trợ tài chính kịp thời.
Sách giáo khoa phải đảm bảo tính thống nhất, liên thông từ lớp 1 đến lớp 12 (tùy thuộc số năm học của hệ thống giáo dục), do vậy, không thể đồng thời thay ngay một lúc toàn bộ chương trình và sách giáo khoa của cả hệ thống được.
SGK mang một trọng trách lớn với giáo dục, nó cần được biên soạn cẩn thận, trong từng công đoạn. Nó không chỉ là ý tưởng của người biên soạn, nó là công trình của cả giáo viên và học sinh, là sản phẩm của nhà nghiên cứu, người thầy đứng lớp và người trò thi công. Chừng nào mà các lực lượng trên chấp nhận, nó mới trở thành SGK đích thực.


TS. Ngô Thị Tuyên


Tài liệu tham khảo:
1.    Hồ Ngọc Đại. Tâm lí học dạy học. Nxb Giáo dục, 1983. Tái bản 2010.
2.    Hồ Ngọc Đại. Giải pháp giáo dục. Nxb Giáo dục, 1991. Tái bản 2010.
3.    Hồ Ngọc Đại. Giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục hiện đại. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012.





Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED