Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Thành tựu môn văn CGD bậc tiểu học và hướng nghiên cứu mới

Lời dẫn: Môn Văn CGD được xác định nằm trong lĩnh vực nghệ thuật. Khái niệm trong nghệ thuật có liên quan nhiều đến tình cảm. Đối tượng lĩnh hội trong lĩnh vực này có nguồn gốc vật chất nằm trong cuộc sống thực.

I. THÀNH TỰU VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN CGD BẬC TIỂU HỌC
1. Nguyên tắc xây dựng chương trình
Môn văn cũng như các môn học khác của chương trình CGD đều được xây dựng theo ba nguyên tắc nhất quán: phát triển, chuẩn mực và tối ưu.

Nguyên tắc phát triển của chương trình văn bậc tiểu học là:
* Tổ chức cho trẻ em đi lại con đường phát triển tình cảm nghệ thuật từ thô sơ đến tinh tế. (dựng hình tượng văn đến hiểu được nghĩa bóng, các lớp chủ đề, tư tưởng rồi tìm được ý)
* Con đường phát triển đó cũng được thể hiện qua các thao tác từ đơn giản đến phức tạp, các việc làm từ dễ đến khó...
Nguyên tắc chuẩn mực của chương  trình văn bậc tiểu học là:
* Các văn bản văn trong sách giáo khoa phải là những văn bản có tính nghệ thuật.
* Khi dạy văn thầy không giảng giải để áp đặt cho học sinh. Ngược lại học sinh có quyền thích, hay không thích, có quyền chê hay khen, có quyền nói lên ý kiến của riêng mình.
* Các thao tác làm ra tác phẩm nghệ thuật thường tồn tại đan quyện vào nhau (ngay trong khi tưởng tượng nhà văn đã có liên tưởng) nhưng khi tổ chức hoạt động học văn, nhà sư phạm phải phân giải các thao tác đó một cách tường minh để học sinh thực hiện.
Nguyên tắc tối ưu của chương trình văn bậc tiểu học là:
* Dùng vật liệu ít nhất để tổ chức việc làm và thao tác học văn của trẻ em. Mỗi bài học đều thực hiện theo hai bước:
Bước 1: Dùng một vật liệu mẫu để hình thành khái niệm
Bước 2: Dùng các vật liệu khác để củng cố khái niệm.
* Hệ thống việc làm, thao tác trong quy trình dạy văn phải tường minh, có thể kiểm soát một cách khách quan, bên ngoài cá thể.
2. Mục tiêu:
Mục Tiêu của môn văn ở nhà trường phổ thông là hình thành năng lực văn cho học sinh. Năng lực ấy bao gồm:
+ Dạy các em biết những thao tác, kĩ năng cơ bản để giải mã tác phẩm nghệ thuật văn, để các em có thể đến được với nhu cầu và năng lực tự tìm hiểu, tự biểu đạt của con người.
+ Qua môn văn dạy các em một “ngữ pháp nghệ thuật”. Văn học, hội họa, âm nhạc, điêu khắc… tuy khác nhau về vật liệu nhưng giống nhau về phương thức biểu đạt. Đó là cách diễn đạt bằng hình tượng mang tính ẩn dụ. Các tác phẩm nghệ thuật đều có một sự sống khác (ngoài văn bản) là sự sống trong tâm lí người đọc (người nghe, người xem). Sự sống này có được là nhờ các thao tác tưởng tượng và liên tưởng diễn ra trong tâm lí con người. Chính vì thế học văn là học một cái mẫu để trẻ em có được một phương pháp đi đến khám phá những hình thức nghệ thuật khác.
+ Song song với mục tiêu trên, môn văn dạy các em có được những cảm xúc văn, bồi dưỡng phẩm chất nhân văn và đồng thời nâng cao năng lực biểu đạt ngôn ngữ cho trẻ em.
3. Phương pháp:
Để đạt được mục tiêu trên nhiệm vụ của môn văn ở nhà trường phổ thông là chuyển năng lực văn của loài người được kết tinh trong tác phẩm thành năng lực văn trong từng nhân cách trẻ em. Công việc đó không gì khác ngoài công thức giáo dục: A --> a.
Hoạt động học văn đích thực diễn ra trong quá trình người thầy tổ chức cho trẻ em chuyển tác phẩm của tác giả thành tác phẩm cho chính mình. Cái nhân lõi của cả quá trình là những thao tác xoay quanh hình tượng văn. Cụ thể là cho trẻ em làm lại những việc sau:
- Huy động thao tác tưởng tượng dựng lại hình tượng văn chứa trong vật liệu cho sẵn.
- Huy động thao tác liên tưởng để nghĩ tới một tình cảm gắn kèm với hình tượng nói trên.
- So sánh cách nói văn với cách nói được làm ra theo lối khoa học.
Như thế học sinh không cần được giảng giải mà các em vẫn có thể tự làm ra sản phẩm của chính mình. Ở bậc tiểu học, trẻ em nhận ra hình tượng văn ở những mức độ khác nhau:
Lớp 2: Em dựng lại hình tượng văn từ một văn bản
Lớp 3: Em tìm nghĩa bóng của hình tượng văn
Lớp 4: Em tìm chủ đề, tư tưởng của hình tượng văn
Lớp 5: Em tìm nghĩa và ý của hình tượng văn.
Đến đây chúng tôi xin được đi vào một số vấn đề kĩ thuật thực thi cụ thể để người đọc có cái nhìn rõ hơn về thành tựu của môn văn CGD bậc tiểu học. Thành tựu đó xin được gói gọn trong ba việc làm căn bản để học văn:
Việc 1: Giảng nghĩa từ như thế nào?
Cách 1: Dùng phép mô tả
- Các em đọc thầm cả đoạn văn (hoặc thơ) có chứa các từ ngữ khó cần giải thích.
- Các em kể lại những gì em nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận thấy...
Cách 2: Giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
- Tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ (hoặc ngữ) cần giảng
- Đặt câu với từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa vừa tìm ra.
Cách 3: Kĩ thuật đặt câu để giải nghĩa từ
Cách 4: Dùng kĩ thuật diễn kịch câm để giải nghĩa từ
Các cách giảng nghĩa từ trên được sử dụng rất linh hoạt: có khi một từ khó được giảng không chỉ bằng một cách mà nhiều cách kết hợp.
Việc 2: Thao tác tưởng tượng – Tạo dựng hình tượng
Những kĩ thuật để tưởng tượng:
- Dùng phép kể chuyện. Học sinh có thể kể lại bằng ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai. Khi đó người thầy sẽ gợi ý cho các em kể ra những gì nhìn thấy, nghe thấy, cảm giác thấy trong tưởng tượng.
- Dùng phép đóng kịch: Việc đóng kịch có thể ở nhiều mức độ: một tình tiết, một hành động của nhân vật, một khúc câu chuyện hoặc toàn bộ câu chuyện
Việc 3: Thao tác liên tưởng – Tìm ý của hình tượng
Công nghệ giáo dục phân tách Nghĩa và Ý. Nghĩa là cái mọi người cùng nhìn thấy như nhau. Những nhân vật văn học như Thạch Sanh, Thúy Kiều, Ga-vơ-rốt... đều được mọi người hình dung gần giống nhau qua các chi tiết mô tả hình dáng, hành động... Từ cái Nghĩa chung, bằng cách vận dụng thao tác liên tưởng người đọc sẽ đến được cái Ý của riêng mình. Ta có thể thấy rõ điều đó qua một ví dụ rất điển hình: Người già cảm nhận về Thúy Kiều khác người trẻ, người có nhiều trải nghiệm cảm nhận về Thúy Kiều khác với người có cuộc đời bình yên... Đó chính là cái Ý riêng được nảy nở từ cái Nghĩa chung của hình tượng nghệ thuật.
Việc tổ chức cho trẻ em thực hiện thao tác liên tưởng được tiến hành dựa theo cơ chế tâm lí của hoạt động liên tưởng là sự kết nối: liên tưởng kết nối không gian với thời gian, hiện tại với quá khứ và tương lai, kết nối hình tượng với cái ẩn dụ. Tóm lại, liên tưởng kết nối Nghĩa với Ý. Ta có thể thấy rõ qua ví dụ sau:
Từ câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ta có thể dẫn dắt học sinh nối kết:

 


Ăn cơm nhớ người trồng lúa
Mặc áo nhớ người dệt vải
Qua sông nhớ người chở đò...


Bản thân việc kết nối thông qua liên tưởng như vậy đã làm lộ ra nghĩa bóng của câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Như vậy thành tựu của chương trình môn văn CGD bậc tiểu học bao gồm:
•   Đã xác định rõ nhiệm vụ của môn văn bậc tiểu học.
•    Đã xác định được đối tượng cần chiếm lĩnh trong môn Văn.
•    Hoàn thiện quy trình dạy văn bậc tiểu học với những kĩ thuật thực thi (bao gồm các việc làm, thao tác học văn) hết sức tường minh, có thể kiểm soát bên ngoài người học. Từ đó làm thay đổi căn bản cách dạy và học môn Văn: từ thầy giảng giải – trò ghi nhớ sang thầy thiết kế - trò thi công. Và cũng từ đây cách học văn theo kiểu học thuộc lòng đã bị thay thế bằng sự tự chiếm lĩnh tác phẩm văn học của người học.


II. THÀNH TỰU THỰC NGHIỆM
Bộ sách Văn CGD bậc tiểu học đã được biên soạn và tổ chức dạy thực nghiệm tại trường THCS Thực nghiệm và từng được triển khai trên 43 tỉnh thành trong cả nước. Qua quá trình thực nghiệm bộ sách và thiết kế đã được các cán bộ nghiên cứu tu chỉnh để dần hoàn thiện.
Kết quả của quá trình 35 năm đó là những tiết học văn đầy thú vị, những sản phẩm văn không giống ai, sự phát triển của học sinh trong nhân cách và ngôn ngữ biểu đạt... Những thành tựu đó đã được rất nhiều giáo viên đứng lớp và cả phụ huynh học sinh ngợi ca. Có lẽ sẽ nhiều người khó tin là một em bé 7 tuổi lại có thể tự làm được những câu đồng dao như thế này:
Con chim chích chòe
Mày ngồi đầu hè
Bảo mày ăn xôi
Mày đòi bánh trôi
Bảo mày ăn mít
Mày kêu hơi ít
Bảo mày linh tinh
Mày kêu thông minh
Bảo mày giặt giũ
Mày kêu buồn ngủ
Bảo mày trông em
Mày chối nhem nhẻm
Chích chòe chích chòe.

(Thục Anh và Lê Khanh lớp 2D trường PTCS Thực Nghiệm, năm học 2011 – 2012)
Bài đồng dao hay ở chỗ nó không chỉ có vần có nhịp mà nó còn đúng là của trẻ con, chỉ có trẻ con mới nghĩ được như thế.
Quá trình thực nghiệm đã khẳng định con đường tổ chức học văn theo đường lối CGD hoàn toàn đúng đắn và hiệu quả. Học văn không còn là học thuộc những lời  giảng của thầy để viết ra những bài văn giống hệt nhau hay na ná như nhau. Phụ huynh học sinh vẫn truyền miệng rằng học sinh trường Thực nghiệm viết văn rất hay vì chả ai giống ai, mỗi bài văn đều là của riêng từng em, mang đậm sự hồn nhiên của trẻ thơ...
Đặc biệt, trong thời gian môn văn CGD được triển khai rộng, các cán bộ nghiên cứu đã xác định được cách thức huấn luyện giáo viên dạy văn CGD tương đối chắc chắn, tạo được đội ngũ giáo viên dạy văn có kĩ năng cơ bản.
III. MỘT SỐ HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI
Môn văn CGD bậc tiểu học vẫn được coi là môn học khá ổn định. Các tài liệu sách và thiết kế đều được giáo viên  trường PTCS Thực nghiệm khen ngợi và không có nhiều tranh cãi như môn Tiếng Việt hay toán. Nhưng như vậy không có nghĩa là môn văn không cần được làm mới và sâu sắc hơn nữa, triệt để hơn nữa.
Qua quá trình nghiên cứu, dự giờ và trực tiếp giảng dạy môn văn chúng tôi nhận thấy bên cạnh những thành tựu to lớn, có tính đột phá, môn văn CGD bậc tiểu học vẫn cần được tiếp tục đổi mới để hoàn thiện hơn. Những vấn đề cần nghiên cứu như:
CGD khẳng định hướng nghiên cứu mới là dạy văn như dạy một mẫu ngữ pháp nghệ thuật nhưng thực tế chương trình văn CGD vẫn giữ nguyên là một môn học của lĩnh vực nghệ thuật chứ chưa vươn tới một mẫu.
Bên cạnh quy trình dạy văn đã được khẳng định vẫn cần phải đi sâu vào những vấn đề mang tính kĩ thuật thực thi như làm thế nào để thầy có thể tổ chức cho học sinh tưởng tượng và liên tưởng tốt hơn thay vì ra những lệnh chung chung “Em hãy tưởng tượng và kể lại, hay Em liên tưởng thấy gì...?”
Rồi vấn đề đánh giá kết quả học văn của học sinh như thế nào cho chính xác khi kết quả đó không chỉ nằm trong giờ học văn mà còn tác động đến nhân cách của từng trẻ em.
Trong bối cảnh nở rộ của nhiều lí thuyết học tập hiện đại, môn văn nên tiếp thu các thành tựu đó như thế nào để nâng cao chất lượng học văn của học sinh.
Cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa để khắc phục những khó khăn của học sinh miền núi trong học văn CGD...
******
Nói dài, nói nhiều nhưng có lẽ thành tựu lớn nhất của của môn văn CGD là đã góp phần tạo ra những Sản phẩm giáo dục, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho người học. Đúng như lời của GS.TSKH Hồ Ngọc Đại: “Hạnh phúc đi học chỉ có thể có được từ Sản phẩm giáo dục” (6,273).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Hoàn thiện công nghệ giáo dục môn Tiếng Việt và văn bậc Tiểu học - GS.TSKH Hồ Ngọc Đại chủ nhiệm
2. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ Hoàn thiện quy trình dạy các môn cuối cấp Tiểu học, chủ nhiệm đề tài: TS.Vũ Hữu Trường.
3. Bộ tài liệu sách và thiết kế Văn 2,3,4,5 CGD
4. Hồ Ngọc Đại, Cái và cách, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2008
5. Hồ Ngọc Đại, Bài học là gì, NXB Hà Nội, 2007
6. Hồ Ngọc Đại, Nghiệp vụ sư phạm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2010
7. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 2004
8. Bế Hồng Hạnh: Thao tác tưởng tượng trong công nghệ dạy văn bậc Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)
9. Phương Lựu (chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 2003
10. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Hà Nội-Đà Nẵng, 2000.
11. Nguyễn Lệ Thu: Ứng dụng nguyên lí công nghệ giáo dục vào việc dạy Văn ở trường Tiểu học (khảo sat lớp 3) (luận văn thạc sĩ)
12. Phạm Toàn, Công nghệ dạy văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
13. Phạm Toàn, Hợp lưu các dòng tâm lí học giáo dục, NXB Tri thức, 2008
14. Phạm Toàn, Nghề dạy văn, Trung tâm giáo dục phổ thông và Sở giáo dục Thừa Thiên Huế, 1990.
15. Trung tâm Công nghệ giáo dục: Chương trình các môn học thực nghiệm theo tư tưởng CGD, Hà Nội, 2002.

ThS. Nguyễn Thị Quế

Trung tâm nghiên cứu Công nghệ giáo dục

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED