Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Môn Tiếng Việt Tiểu học

Trẻ em sinh ra đầu thế kỉ XXI đã được hưởng ngay những thành tựu khoa học – công nghệ còn nóng hổi. Thì lẽ đương nhiên, đến trường, học môn Tiếng Việt, em phải có quyền được hưởng những thành tựu khoa học hiện đại về Tiếng Việt. Dù mẹ em không biết, Thầy giáo của em còn chưa biết, thế mà em lại cần có trong tay những tri thức khoa học hiện đại về tiếng Việt.

 

I. Định hướng lí thuyết
Trẻ em 6 tuổi đã nói sõi, đến trường học môn Tiếng Việt thì học cái gì?
Tại một Hội thảo khoa học, một giáo sư ngôn ngữ nói hồn nhiên: Đến trường để học chữ, không học chữ thì học gì?
Hơn hai ngàn năm nay, ai đến với Thầy cũng cốt kiếm lấy dăm ba chữ giắt lưng, mà dù chỉ được nửa chữ cũng xin tôn làm thầy. Tính từ Thầy Khổng Tử, truyền thống ấy có lịch sử ngót nghét 2500 năm, liệu đã chắc là vĩnh viễn?
Đầu những năm 80 thế kỉ XX, lần đầu tiên có tên gọi môn Tiếng Việt. Nó nuốt chửng luôn môn Học Vần, bắt đổi tên là môn Tiếng Việt lớp Một.
Coi chừng phép quỷ biện này: Thay tên gọi coi như thay cái được gọi tên.
Học Vần với mẹ hay học chữ với thầy đồ thì cũng cùng một cách học như học mọi thứ khác ở nhà “cái này gọi là…” bát, đũa, – nhất, = nhị, e / b…

Học Tiếng Việt lớp Một đầu thế kỉ XXI khác học chữ Nho thời Sĩ Nhiếp đầu Công nguyên, khác với học chữ quốc ngữ đầu thế kỉ XX.
Trẻ em sinh ra đầu thế kỉ XXI đã được hưởng ngay những thành tựu khoa học – công nghệ còn nóng hổi. Thì lẽ đương nhiên, đến trường, học môn Tiếng Việt, em phải có quyền được hưởng những thành tựu khoa học hiện đại về Tiếng Việt. Dù mẹ em không biết, Thầy giáo của em còn chưa biết, thế mà em lại cần có trong tay những tri thức khoa học hiện đại về tiếng Việt.
Mẹ em không biết thì không sao. Thầy em chưa biết thì rồi phải biết, vì lợi ích và lẽ sống của mình,Thầy phải biết.
Lợi ích của em là thứ men ủ lên lợi ích của tất cả người lớn xung quanh em, trong nhà trường và trong xã hội: Thầy giáo – Hiệu trưởng – Trưởng phòng – Giám đốc – Giáo sư tiến sĩ… Còn có thêm cả nhà buôn nữa. Tất cả họ sẽ có gì, khi Trẻ em thực sự có gì.
– Học tiếng Việt, Trẻ em phải thực sự có gì?
– Phải biết chữ.
Ừ thì rồi Trẻ em phải biết chữ. Vấn đề cốt lõi là em còn phải biết chữ có nguồn gốc ở đâu, bản chất là gì… Bằng cách nào em có được những tri thức khoa học hiện đại về Tiếng Việt.

Học tiếng Việt để dùng, cộc lốc chỉ có vậy, nhưng không thể hiểu thô thiển dùng tiếng Việt như dùng một cái có sẵn, như dùng một phương tiện giao lưu.
Tiếng Việt với tư cách môn học, trước hết phải là sản phẩm do Trẻ em tự làm ra, với tư cách mục đích. Sản phẩm này cũng hiện đại như mọi sản phẩm khác của nền văn minh hiện đại, đề được thiết kế và thi công trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại. Chừng nào có trong tay tiếng Việt thì em mới dùng nó như một phương tiện để giao lưu, như dùng các phương tiện có sẵn khác.

Trước hết, rèn con dao, tức là làm ra sản phẩm, với tư cách mục đích.
Sau đó, dùng con dao, tức là dùng một sản phẩm đã có, với tư cách phương tiện, công cụ.

Tiếng Việt trong nhà trường là sản phẩm do em tự làm ra (chứ không có sẵn). Việc này nhà ngôn ngữ học đã làm xong. Em chỉ làm lại. Sản phẩm đầu tiên em có được nhờ phân tích cấu trúc ngữ âm của Tiếng ra các âm vị . Sau đó, dùng Chữ ghi lại từng âm vị. Lời nói gió bay, dùng chữ giữ nó lại. Lần đầu tiên em biết đến và xử lí quan hệ Âm / Chữ.

Chữ Việt đã có sẵn. Học sinh lớp Một tiếp nhận như thế nào cái có sẵn ấy?

Theo nghiệp vụ sư phạm hiện đại, trước hết, chữ phải là một sản phẩm do Học sinh tự làm ra (với tư cách mục đích), tức là làm lại việc lịch sử đã từng làm ra trước đó.
Mấy ngàn năm trước, người Hán như một đứa trẻ khôn quá sớm, đã nghĩ ra cách dùng Chữ ghi Tiếng. Tiếng nào Chữ nấy. Có bao nhiêu Tiếng có bấy nhiêu chữ.
Chữ Việt sinh sau, hưởng được trí khôn muộn màng của nhân loại, cũng dùng chữ ghi Tiếng, nhưng theo cách xử lí khác về nguyên lí so với người Hán.
Tiếng Việt có hàng vạn Tiếng khác nhau, nhưng mỗi Tiếng không phải là một khối liền cục. Trí khôn hiện đại có thể phân tích cấu trúc ngữ âm của Tiếng, từ thô đến tinh, cho đến khi mọi thao tác phân tích phải dừng lại: Tiếng đã được phân tích đến đơn vị cấu thành nhỏ nhất, gọi là Âm vị. Có 37 âm vị. Mỗi âm vị ghi lại bằng một chữ cái.
Dùng Chữ cái ghi Tiếng tiếng Việt – nguyên tắc lí thuyết ấy hoàn toàn khác với cách học chữ Hán, nhớ mặt chữ liền cả khối ghi Tiếng.

Môn Tiếng Việt là một môn học khoa học, tức là một Hệ thống khái niệm ngôn ngữ học, được thiết kế theo ba nguyên tắc: Phát triển – Chuẩn mực – Tối thiểu.
Là một Hệ thống khái niệm khoa học, môn Tiếng Việt tiểu học đi theo tiến trình phát triển tự nhiên, từ trừu tượng đến cụ thể hơn, từ đơn giản đến phức tạp hơn.

Điểm xuất phát của Hệ thống ấy là gì?

Chọn khái niệm mở đầu, điểm xuất phát của Hệ thống có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với cả Hệ thống.

Tiếng Việt tồn tại như thế nào trong hiện thực đời sống, bên ngoài tư duy?

Tiếng nói có âm thanh nảy sinh, hình thành và phát triển trong toàn bộ lịch sử nước ta, từ bao giờ đến bây giờ và mãi mãi. Nó tồn tại một cách vật chất, độc lập (dù rằng nó sống trong các cá nhân). Mãi sau này, người ta nhận ra rằng lời nói gió bay, phải tìm cách giữ nó lại.

Cái gì có trước trong hiện thực cũng là cái có trước trong tư duy.
Cái gì có trước trong tư duy cũng là cái có trước trong giáo dục.

Tiếng nói có âm thanh là vật thật, có trước. Người ta quy ước với nhau tìm vật thay thế để đáp ứng nhu cầu mới cần cố định hoa nó.

Đến trường, 6 tuổi, em đã nói sõi, tức là đã có Tiếng nói ở hình thái âm thanh.
Đến trường, em học cách tạo ra và dùng vật thay thế – chữ viết, nghĩa là em phải xử lí quan hệ giữa hai hình thái của Tiếng nói: Hình thái tự nhiên – Âm thanh và Hình thái quy ước – Chữ viết.
Mối quan hệ Âm – Chữ là mối quan hệ được chọn làm điểm xuất phát của môn Tiếng Việt tiểu học.
Mối quan hệ Âm – Chữ lấy Âm làm căn cứ.

Tri thức cơ bản đầu tiên em học được ở trường là ngữ âm của Tiếng nói, tồn tại như một thực thể vật chất.

Các nhà ngôn ngữ học phải bỏ ra 300 năm nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt, đến năm 1977 mới tổng kết, dùng làm giáo trình chính thức cho sinh viên năm thứ 3 chuyên ngành ngôn ngữ học, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội.
Cấu trúc ngữ âm là khái niệm khoa học về ngữ âm. Vì vậy, Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp Một là cấu trúc ngữ âm của Tiếng tiếng Việt.
Muốn nắm được cấu trúc của một khái niệm thì phải làm hai việc: 1– Biết rõ các thành phần cấu thành, 2– Mối liên hệ nội tại giữa các thành phần ấy, quy định bởi vị trí, chức năng của mỗi thành phần trong cấu trúc.

Cấu trúc ngữ âm của Tiếng đồng thời cũng là một vật liệu để huấn luyện cách làm việc trí óc.
Ở nhà, bằng bắt chước, bằng mầy mò thử và sai, bằng kinh nghiệm cá nhân, em làm thành thạo các thao tác bằng tay (thao tác vật chất, thao tác tay chân).
Đến trường, lần đầu tiên em học cách làm việc trí óc, làm bằng các thao tác trí óc.

Muốn chiếm lĩnh cấu trúc ngữ âm của Tiếng, em phải dùng các thao tác trí óc. (Học các thao tác trí óc cũng là học cách làm việc trí óc).

Muốn biết được cấu trúc ngữ âm của Tiếng thì em phải biết cách phân tích Tiếng, do đó, em học thao tác phân tích, một thao tác cơ bản của cách làm việc trí óc.

Thao tác phân tích được huấn luyện một cách vật chất, bên ngoài đầu óc các cá nhân, được huân luyện từ thô đến tinh.

Ở điểm xuất phát, Lời là một chuỗi âm thanh.
Thao tác phân tích thô nhất là tách Lời ra từng Tiếng, mỗi Tiếng là một khối liền nguyên tảng.
Thao tác phân tích tinh nhất là phân tích Tiếng ra các đơn vị cấu thành nhỏ nhất, gọi là âm vị.

Âm vị là vật thật có trước. Em cần học cách dùng chữ ghi Âm vị để ghi Tiếng.
Môn Tiếng Việt tiểu học là một Hệ thống khái niệm khoa học ngôn ngữ (ngôn ngữ học), với cốt lõi là ba khái niệm cơ bản.
1. Khái niệm Tiếng.
2. Khái niệm Từ.
3. Khái niệm Câu.
Mỗi khái niệm được thiết kế theo tính chuẩn mực của trí tuệ đương thời.

Cấu trúc ngữ âm lấy từ quyển Ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiện Thuật, 1977.
Từ và Câu lấy từ quyển Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, 1983.

Ba khái niệm cơ bản Tiếng / Từ / Câu là ba cốt thép trụ cột của toà nhà môn Tiếng Việt tiểu học. Các khái niệm còn lại được chọn lựa theo nguyên tắc tối thiểu (không thể không có) để Đối tượng phát triển tự nhiên.
Sản phẩm
1. Khái niệm Tiếng. Học hết lớp Một, em đọc thông viết thạo, nắm vững luật chính tả và không thể tái mù.
2. Khái niệm Từ và khái niệm Câu. Học hết lớp Hai, em viết thành Câu. Học hết lớp Ba, em viết đúng Câu, không bao giờ viết Câu què Câu cụt vô nghĩa.

Theo Định hướng lí thuyết, với ba nguyên tắc Phát triển – Chuẩn mực – Tối thiểu, có thể thiết kế môn Tiếng Việt tiểu học theo ba cốt thép (ba khái niệm cơ bản) Tiếng / Từ / Câu.
Lớp Một: Khái niệm Tiếng.
Lớp Hai – lớp Ba: Khái niệm Từ và khái niệm Câu.
Môn Tiếng Việt tiểu học lấy khái niệm ngôn ngữ ở trình độ hiện đại làm chuẩn mực.
Một khái niệm có cấu trúc của nó. Biết được (học được, nắm được, chiếm lĩnh được) một cấu trúc thì phải làm được hai việc. Một, phân tích cấu trúc ấy ra các thành phần cấu thành. Hai, biết rõ mối liên hệ nội tại giữa các thành phần ấy đảm bảo cho cấu trúc tồn tại và vận hành. Cụ thể là phải biết chuẩn xác vị trí, chức năng của mỗi thành phần trong cấu trúc.


Ví dụ trực quan về cấu trúc là chiếc xe máy. Chiếc xe máy là một cấu trúc có rất nhiều chi tiết liên kết với ba thành phần cơ bản, mỗi thành phần đảm nhận một chức năng.
Thành phần    Chức năng
Động cơ         Nguồn lực
Dây xích         Truyền lực
Bánh xe          Công tác

Thành phần luôn luôn “hiện diện”, còn chức năng chỉ xuất hiện khi vận hành.

Khái niệm là chất liệu của trí tuệ. Chất liệu của trí tuệ có được từ chất liệu của khái niệm.

Trí tuệ khoa học có chất liệu của khái niệm khoa học.
Trí tuệ kinh nghiệm có chất liệu của khái niệm kinh nghiệm.

Chất liệu của khái niệm chứa trong vật liệu. Phải biết cách tinh chế thì mới lấy ra được chất liệu.
Vật liệu vốn xô bồ, Nghiệp vụ sư phạm cổ truyền biết vậy, nhưng chỉ đủ trí khôn gom vật liệu vào từng cụm, gọi là chủ điểm.
Khái niệm độc lập với chủ điểm. Khái niệm có trong bất cứ chủ điểm nào.

Khái niệm Tiếng có trong tất cả các chủ điểm.
Khái niệm Từ có trong tất cả các chủ điểm.
Khái niệm Câu có trong tất cả các chủ điểm.

Có trong tất cả các chủ điểm, nhưng chắc gì đã có nghiệp vụ tinh chế, lấy ra được các khái niệm Tiếng / Từ / Câu!
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại chỉ cần một vật liệu cũng đã có thể tinh chế lấy ra khái niệm. Khi trí tuệ trang bị bằng khái niệm thì trí tuệ ấy có thể tìm ra khái niệm ở trong bất cứ vật liệu nào, thuộc bất cứ chủ điểm nào.

Học vài năm vẫn không đọc thông viết thạo, hoặc đã có lúc đọc thông viết thạo rồi quên (tái mù). Học mười năm viết vẫn sai Câu.

II. Chương trình môn Tiếng Việt lớp Một

Có hai vấn đề cần phải rạch ròi trong tư duy giáo dục và trong thực tiễn sư phạm:
Một: Đối tượng là gì.
Hai: Dùng cách nào để chiếm lĩnh Đối tượng ấy. Nghiệp vụ sư phạm hiện đại phải bảo đảm: Ai học cũng được, học gì được nấy, học đâu chắc đấy.

Đối tượng môn Tiếng Việt lớp Một là Tiếng. Đối tượng càng thuần khiết thì tư duy càng có chất liệu thuần khiết. Tiếng thuần khiết là Tiếng chỉ thuần ngữ âm, thuần khiết là ngữ âm, không có tạp chất, ngay cả Nghĩa.

Để xác định chuẩn xác Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp Một, và để loại bỏ cơ hội hiểu lầm, và để đánh sập ý chí phản kháng, và để đạt hiệu quả cao nhất, cần phải đặt Tiếng trong một “chân không về Nghĩa”.

Chiếm lĩnh Đối tượng Tiếng hiểu là chiếm lĩnh ngữ âm của Tiếng. Cụ thể là:
Nghe Tiếng, nói lại đúng Tiếng.
Nghe Vần, nói lại đúng Vần.
Nghe Âm vị, nói lại đúng Âm vị.
Tiếng / Vần / Âm vị là các Đối tượng cụ thể cần chiếm lĩnh trong quá trình học Tiếng Việt lớp Một.

Hệ thống thao tác chiếm lĩnh Đối tượng Tiếng.

Hệ thống thao tác là tinh lực của Nghiệp vụ sư phạm hiện đại.
Hệ thống thao tác trí óc làm ra khái niệm khoa học giống như hệ thống thao tác xây nhà. Hệ thống thao tác xây nhà năm gian hai chái khác với hệ thống xây nhà bảy tầng.

1. Thao tác chiếm lĩnh Đối tượng
Tiếng có âm thanh là một vật liệu vật chất, bên ngoài đầu óc, do đó, các thao tác chiếm lĩnh nó cũng phải là các thao tác vật chất, gọi là phát âm.
Phát âm chuẩn xác là yêu cầu cơ bản nhất.
Phát âm chuẩn xác từng Tiếng thì còn khó, nhưng phát âm chuẩn xác từng Âm vị thì hoàn toàn có thể làm được. Nếu kiên trì trong vòng 100 năm nữa thì cả nước sẽ phát âm như nhau.
a. Huấn luyện phát âm theo 4 mức độ âm thanh:
Nói to, cho cả lớp nghe.
Nói nhỏ, cho bạn bên cạnh nghe.
Nói mấp máy môi, cho người khác nhìn thấy.
Ngậm miệng nói (nói không thành tiếng), chỉ mình biết.
b. Vỗ tay hỗ trợ phát âm.
Phát âm to, vỗ tay to. Phát âm nhỏ, vỗ tay nhỏ. Nói mấp máy môi: ngón trỏ phải đánh vào lòng bàn tay trái. Ngậm miệng nói: hai ngón tay trỏ gõ vào nhau.

Mẫu huấn luyện thao tác

1. Thao tác chiếm lĩnh Đối tượng.
Vật liệu: Lời.
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Thao tác: Phân tích (tách lời ra từng Tiếng).
Vừa phát âm, vừa vỗ tay theo 4 mức độ âm thanh:
Tháp / Mười / đẹp / nhất / bông / sen
Sản phẩm: Tiếng (từng tiếng rời).
Lời là một chuỗi các Tiếng.

Tiếng ở điểm xuất phát là một thể đồng nhất trừu tượng: Tiếng nào cũng như Tiếng nào, một lần phát âm trọn vẹn, liền một khối. Tiếng tách ra khỏi nghĩa, chỉ xét về âm và cách phát âm thì giữa các Tiếng không có sự khác biệt gì.

Tất cả Trẻ em nói sõi tiếng mẹ đẻ đều có thể phát âm chuẩn xác từng Tiếng, nếu không lấn cấn về Nghĩa.

Loại Nghĩa ra khỏi ngữ âm ở đoạn này là một giải pháp hoàn toàn trái ngược với lẽ phải thông thường của tư duy giáo dục hiện hành.

Đối tượng càng thuần khiết, sản phẩm càng có giá trị cao, tiến tới tối đa.

2. Thao tác trên vật thay thế
Các vật thay thế cho Vật thật (Tiếng) được chọn từ thô đến tinh.
a. Đồ vật ba chiều, có thể dùng tay cầm nắm, di chuyển, sắp xếp. Mỗi Tiếng thay bằng một khối nhựa (hòn sỏi, củ lạc...).
b. Đồ vật hai chiều: Mỗi Tiếng thay bằng một hình hình học (hình vuông, hình tròn,...).
c. Mỗi Tiếng thay bằng một kí hiệu quy ước, ví dụ, dấu X.
Vật liệu (Tiếng có âm thanh)
Tháp Mười đẹp nhất bông sen

X     X     X     X    X     X

Các Vật thay thế đều do quy ước, không có quan hệ hữu cơ với Vật thật. Nay mai học chữ, em vui vẻ chấp nhận các quy ước võ đoán (không có lí do): Âm /a/ ghi bằng chữ “a”.

Dùng Vật thay thế cũng là cơ hội để luyện tập thao tác chiếm lĩnh Đối tượng – Vật thật.

Vật thật là nguồn gốc và cơ sở cuả tri thức.
Vật thay thế là một giải pháp quy ước có tính kĩ thuật.

3. Thao tác mô hình hoá
Mô hình chẳng qua là một Vật thay thế, sau khi chiếm lĩnh Đối tượng ở ngay tại hình thái tồn tại của nó.
Vật thay thế (cho Vật thật – Tiếng) có thể là đồ vật ba chiều, hình hình học hai chiều, kí hiệu... chỉ dùng khi Đối tượng còn là một thể đồng nhất trừu tượng. Khi đó, Tiếng là một lần phát âm trọn vẹn.
Rời khỏi điểm xuất phát, thao tác phân tích “đập vỡ” thể đồng nhất trừu tượng ban đầu ấy, tách ra ba phần.
Tiếng nguyên khối     
Tiếng có ba phần              
Thanh / Phần đầu / Phần vần.
Thao tác phân tích Tiếng ra ba phần vẫn còn là thao tác “thô”, các sản phẩm còn rất mơ hồ, nhưng đã có một sản phẩm dứt khoát: Tiếng Việt có 6 thanh.
Từ nay, chỉ tập trung vào hai phần còn lại: Phần đầu / Phần vần.

– Thanh ngang.
– Phần đầu: /s/.
– Phần vần: /en/.

Học chữ
Trẻ em học chữ theo các Mẫu.
Cách học là phát âm, nhận xét luồng hơi đi ra (bị cản hay tự do).
Mẫu 1 – ba
Đối tượng cần chiếm lĩnh: Tiếng /ba/.
Cách chiếm lĩnh: Phát âm, phân tích ngữ âm.
Hai âm vị /a/ và /b/ với hai cách phát âm đặc trưng nhất xứng đáng làm mẫu cho tất cả các âm vị còn lại.
Phân tích
/ba/ – thanh ngang.
/a/ – nguyên âm.
/b/ – phụ âm.
Học chữ theo các Mẫu tiếp theo:
Mẫu 2 – oa
Mẫu 3 – an
Mẫu 4 – oan
Mẫu 5 – iê
Mỗi ngày đến trường dùng Mẫu 1 – ba, em chỉ thay một thành phần của Mẫu thì học thêm một âm vị và chữ cái ghi âm vị đó.
Chữ ghi âm vị gọi là chữ cái.

4. Thao tác dùng Mẫu
Mẫu được mô hình hoá. Mô hình vốn là sản phẩm của ngành khác, năm 1971, tôi dùng cho Học sinh lớp Hai học Phép toán đại số, như một Mẫu.
Môn Tiếng Việt lớp Một, để học chữ chỉ cần 5 Mẫu.
Mẫu 1 – ba    
Có hai công đoạn: Lập Mẫu / Dùng Mẫu.
Để lập Mẫu 1 – ba, phải tốn mất 6 cặp tiết học.
Mỗi ngày Dùng Mẫu chỉ thay một thành phần (giữ nguyên các thành phần kia).
Tiết 1: Thay b bằng c.
Tiết 2: Thay c bằng ch.
Tiết 3: Thay ch bằng d.
Tiết 4: Thay d bằng đ.
Cả 4 Tiết đều làm đi làm lại với một nguyên âm /a/: ba  ca  cha  da  đa.
Tiết 5: Thay a bằng e.
Giữ nguyên e, thay các âm đầu /b/, /c/, /ch/, /d/ thì gặp tình huống ghi âm /cờ/.
Nếu học sinh viết ce thì Thầy chấp nhận. Sau đó, Thầy cho biết thêm: Người nước ngoài dùng chữ của họ ghi Tiếng ta. Ở nước họ, nếu viết ce thì đọc là /xe/. Muốn đọc là /ke/ thì phải viết ke.
Luật chính tả đầu tiên: Âm /cờ/ đứng trước âm /e/ phải viết bằng con chữ k (ca).

Thao tác trí óc được huấn luyện một cách vật chất, bên ngoài đầu óc cá nhân, có thể tổ chức và kiểm soát quá trình làm ra sản phẩm tất yếu.

Học hết lớp Một, sản phẩm tất yếu là đọc thông viết thạo. Em nhắc lại đúng Tiếng thì phân tích được cấu trúc ngữ âm, rồi viết được: at–xpi–rin, clin–tơn, xô–crat, tôn–xtôi... Nhìn vào chữ thì em đọc được.

Muốn làm ra khái niệm khoa học thì buộc phải dùng các thao tác trí óc:
– Thao tác phân tích ngữ âm.
– Thao tác mô hình hoá cấu trúc ngữ âm.
– Thao tác dùng mô hình:
+ để học khái niệm mới,
+ để vận dụng, củng cố khái niệm đã học.
Học Tiếng Việt trước hết là học Tiếng. Tiếng “nguyên gốc” là Tiếng có âm thanh. Chiếm lĩnh Tiếng có âm thanh như chiếm lĩnh một đối tượng vật chất, cần phải dùng sức mạnh vật chất, bằng các thao tác vật chất và được cảm nhận (sản phẩm) một cách vật chất.
Tiếng có âm thanh là vật thật. Do đó, việc chiếm lĩnh vật thật buộc phải dùng các thao tác vật chất, bên ngoài các cá nhân. Sau đó, phải dùng các thao tác trí óc để “chuyển” sản phẩm “vào trong”, thành khái niệm ở hình thái tinh thần.

Tiết học dùng một lượng thời gian cắt ra một cách võ đoán, đều đặn, để hiện thực hoá chương trình môn học.
• Môn Tiếng Việt lớp Một chia ra 35 tuần.
• Mỗi tuần học 5 cặp Tiết học, 75 – 80 phút dành cho môn Tiếng Việt.
Sau mỗi cặp Tiết học, Học sinh tự mình làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh (có thể tồn tại độc lập). Riêng một câu này cũng đủ để gói lại tinh chất của Nghiệp vụ sư phạm hiện đại.
Với công thức: Thầy thiết kế – Trò thi công, mỗi cặp tiết học, Trò tự làm ra cho mình một sản phẩm tất yếu như một sản phẩm làm ra bằng công nghệ sản xuất hiện đại.
Vì vậy, học Tiếng Việt tức là thực thi công nghệ HỌC cho môn Tiếng Việt.
Thực thi Công nghệ HỌC, Học sinh tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, lấy từ đó năng lượng cấp cho phát triển, tự trở thành chính mình.
Mỗi Tiết học làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh, tức là làm ra một giá trị cấp cho sự phát triển cá nhân.

Các hạt giống bình thường đem gieo: ngô, lạc, đậu... đều nảy mầm, phát triển tự nhiên, trở thành chính mình.
Trẻ em bình thường được hưởng giáo dục cũng đều “nảy mầm”, “mọc lên”, phát triển thành chính mình.

Bốn việc thực thi Tiết học, do Học sinh tự làm lấy (theo Bản thiết kế).
Việc 1. Chiếm lĩnh Đối tượng: Cấu trúc ngữ âm của Tiếng, ở hình thái vật chất – âm thanh.
– Nghe, nhắc lại Tiếng: Phát âm.
– Phân tích Tiếng: Phát âm và vỗ tay.
– Sản phẩm: Các thành phần Tiếng ở trình độ phát triển hiện tại.
Việc 2: Định hình hoá sản phẩm của Việc 1, khoác vào Đối tượng một hình thái vững chắc, gọi là Viết. Viết chữ ghi âm và đưa vào Mô hình.
Mẫu 1: ba    
Mẫu 2: oa    
Mẫu 3: an    
Mẫu 4: oan  
Mẫu 5: iê          

Việc 3. Từ chữ phát ra âm, gọi là Đọc.
Việc 4. Tổng kiểm tra, củng cố 3 việc trên gọi là Viết chính tả (nghe – viết).

Mở đầu Tiết học có thể còn có Việc 0 của Thầy để xác định vị trí, chức năng của Tiết học: Mẫu nào – Đã biết gì – Cần làm gì (thay thành phần nào của Mẫu).

Bốn việc thực thi Tiết học vừa làm ra sản phẩm lí thuyết, vừa làm ra sản phẩm thực dụng, để em phải xử lí đúng các quan hệ cơ bản theo luật chính tả.

1. Quan hệ Âm – Chữ
– Một Âm vị ghi bằng một Chữ cái.
– Một Âm vị ghi bằng hai Chữ cái:
g / gh   ng / ngh   o / u   i / y
– Một Âm vị ghi bằng ba Chữ cái: c / k / q
– Một Âm vị ghi bằng bốn Chữ cái:
iê / ia   yê / ya
– Ngược lại, mỗi Chữ cái chỉ ghi một Âm vị.
2. Quan hệ Chữ – Nghĩa
Các phương ngữ có thể nói khác nhau nhưng phải viết giống nhau. Căn cứ vào chữ (ghi Tiếng) mà phân biệt Nghĩa.
– Âm đầu: n / l, s / x, tr / ch, gi / d.
– Âm cuối: n / ng, c / t.
– Âm chính: iê / ia,  iê / ê,  i / y

Học hết lớp Một, em phải nắm vững luật chính tả. EM phải ý thức được viết đúng chính tả vừa là cách tôn trọng tiếng Việt, vừa là cách tỏ ra là người có học.
Lưu ý
Phân biệt: chữ / chữ cái.
Chữ là nói chung cho tất cả, phần lớn là chữ ghi Tiếng. Chữ cái chỉ dùng cho chữ ghi âm vị.

Sách giáo khoa thiết kế theo Tiết học.
Cho mỗi Tiết học có hai trang sách: trang đánh số chẵn (gọi là trang chẵn) và trang đánh số lẻ (gọi là trang lẻ). Mỗi trang có một chức năng nghiệp vụ, nhằm đem lại hiệu quả tối ưu cho từng em.
Trang chẵn: sản phẩm mới, lần đầu tiên có, bắt buộc đối với tất cả 100% Học sinh.
Trang lẻ: cấp vật liệu cho phân hoá, tạo cơ hội cho từng em được dùng hết sức, nhưng không quá sức.
Mỗi trang sách được thiết kế bằng những vật liệu đã có, không để lọt vào những gì chưa biết. Đây cũng là biện pháp sư phạm để ôn tập / củng cố những gì đã học, cũng là biện pháp để kiểm tra những việc đã làm: Liệu đã làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy?
Sách thiết kế theo thứ tự bảng chữ cái abc, nên càng về sau càng có thêm nhiều chữ cái, ghi được nhiều Tiếng, do đó Bài đọc càng dài hơn, đa dạng hơn.

Nghiệp vụ sư phạm hiện đại ngay từ đầu đã huấn luyện cách tự học.

Tự học có Thầy bên cạnh, làm theo việc Thầy giao, học cái mới ở lớp.
Tự học không có Thầy bên cạnh (luyện tập, học ở nhà).

Với nguyên tắc tạo điều kiện cho Trẻ em dùng hết sức mà không quá sức, nên càng về sau càng làm nhiều hơn: Lúc đầu bỏ ra 6 cặp Tiết học để học 2 chữ a / b. Về sau, mỗi Tiết học học 1 vần – 2 vần – 4 vần – 6 vần... càng về sau vần càng khó.

III. Chương trình môn Tiếng Việt lớp Hai
Môn Tiếng Việt lớp Hai là một môn học khoa học. Thế nào là môn học khoa học?
Môn học khoa học là một hệ thống khái niệm khoa học, lấy từ khoa học tương ứng đương thời.
Khái niệm khoa học có cấu trúc logic của nó (là cái “định nghĩa” nó). Cần phải tường minh hoá cấu trúc ấy (chứ không mơ hồ bùng nhùng như khái niệm kinh nghiệm).
Tường minh hoá khái niệm hay tường minh hoá cấu trúc của nó là làm rõ ra giữa ban ngày: Một, cấu trúc khái niệm có những thành phần cấu thành nào. Hai, mỗi thành phần ở vị trí nào, giữ chức năng gì trong cấu trúc.
Cỗ máy là một ví dụ tin cậy về cấu trúc, có ba thành phần (bộ phận) đảm nhận 3 chức năng:
Thành phần        Chức năng
Bộ phận 1    ↔    Nguồn lực
Bộ phận 2    ↔    Truyền lực
Bộ phận 3    ↔    Công tác
Phải có đủ ba thành phần thì cỗ máy mới tồn tại.
Phải thực thi cả ba chức năng thì cỗ máy mới vận hành được, tức là cỗ máy đúng khái niệm, nếu không vận hành được thì chỉ là đống sắt vụn.

Trẻ em người Kinh học lớp Hai, nói sõi tiếng mẹ đẻ, đến trường học môn Tiếng Việt thì để làm gì? Đó là câu hỏi nhiều người cho là cốt lõi nhất. Nếu trả lời: học tiếng Việt (ngôn ngữ nói chung) để giao lưu thì được khen là câu trả lời cập nhật – hiện đại nhất!

Con dao mua về để làm gì? Trả lời câu hỏi cốt lõi này, nếu nói: con dao dùng để thái rau, băm bèo… thì sẽ được khen nức nở là “tư duy hiện đại”!
Con dao dùng để thái rau. Câu trả lời dân dã này, về trình độ tư duy, thì cũng thì cũng ngang tầm với câu trả lời uyên bác học tiếng Việt để giao lưu.

Ô hay, lẽ nào ở nhà, em nói sõi tiếng Việt, mà chưa được giao lưu? Trước đây, người lớn không đến trường thì không giao lưu với nhau, thế ư?
Giao lưu thì đúng là một chức năng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ dùng để giao lưu, như con gái sinh ra là để làm vợ. Khi đang mang thai, mẹ chỉ biết là sắp có con, trai gái chưa biết, một đứa con trừu tượng. Sinh ra, mẹ biết cụ thể hơn em là con gái, nhưng còn phải nuôi em, còn phải tốn bao nhiêu cơm gạo cho em lớn dần lên. Rồi cũng đến ngày em là cô gái trưởng thành, đủ để làm vợ.

Ngôn ngữ dùng để giao lưu thì đúng rồi, nhưng dùng là dùng cái đã có, nghĩa là trước đó, nó từng được làm ra.
Môn Tiếng Việt trong nhà trường đối với em là một Đối tượng cần chiếm lĩnh. Nghiệp vụ sư phạm hiện đại giúp em chiếm lĩnh nó không phải bằng học thuộc lòng các “định nghĩa”, mà bằng cách làm ra (làm lại) như một sản phẩm, tức là như mục đích cần đạt.
Tiếng Việt có sẵn trong thiên hạ, được nhà trường chọn với tư cách một đối tượng khoa học cần chiếm lĩnh. Muốn chiếm lĩnh nó, em phải tự làm ra nó, tức là em biến cái có sẵn của thiên hạ thành sản phẩm, làm tài sản riêng của em. Đó mới đích thực là mục đích học môn Tiếng Việt.

Dùng để giao lưu chỉ là một chức năng của ngôn ngữ, khi nó đã có và đã có thể chuyển hoá thành phương tiện giao lưu.

Học tiếng Việt – Chiếm lĩnh Tiếng Việt – Chiếm lĩnh đối tượng tiếng Việt… thì phải biết rõ hai chuyện về đối tượng ấy: Một, nó có các thành phần cấu thành nào để tồn tại. Hai, để vận hành, mỗi thành phần giữ chức năng gì.

Con dao dùng để thái rau… thì trước đó đã có sẵn con dao, tức là đã rèn ra nó: Nó có cán và lưỡi (cấu trúc). Cán để cầm, lưỡi để thái (chức năng).

Công nghệ Học cho môn Tiếng Việt lớp Hai có hai công đoạn: Một, hình thành sản phẩm mới (khái niệm mới) với tư cách mục đích. Hai, biến mục đích (sản phẩm đã làm ra) thành phương tiện, phục vụ cho mục đích của kẻ khác bên ngoài nó (ví dụ, để giao lưu).
Môn Tiếng Việt tiểu học như toà nhà có ba cột vững chắc là bộ ba khái niệm: Tiếng – Từ – Câu.
Lớp Một: Khái niệm Tiếng, được “định nghĩa” bằng cấu trúc ngữ âm (đặt trong một chân không về Nghĩa).
Lớp Hai: Từ – Câu.
Lớp Ba: Mở rộng Từ (Ngữ). Mở rộng Câu.
Nhiệm vụ cơ bản của ba lớp đầu cấp này là hình thành khái niệm (mục đích) để dùng (phương tiện) cho hai lớp sau, lớp Bốn và lớp Năm (có thể cả lớp Sáu – nếu tiểu học 6 năm).
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại thiết kế môn Tiếng Việt tiểu học theo hai công đoạn lớn.

Công đoạn 1: Căn cứ vào Bản thiết kế, em tự làm ra khái niệm khoa học.

Công đoạn 2: Em dùng các khái niệm đã học phục vụ cho cuộc sống của em.
Trong thực tiễn sư phạm, không có sự rạch ròi cơ học: Công đoạn 1 – Lí thuyết, Công đoạn 2 – Thực tiễn.

Phần lí thuyết (khái niệm) chủ yếu là để định hướng cho thực tiễn dùng tiếng Việt.

Bài 1 – Tên, bài mở đầu, cho em học cách xử lí mối quan hệ Vật thật – Tên gọi.
Vật thật – Kẻ mang Nghĩa.
Tên gọi – Vật thay thế bằng âm thanh.
Vật – Tên như một đồng xu hai mặt, mặt này là Vật, mặt kia là Tên. Đồng xu Vật – Tên vốn có sẵn trong đời, trong cuộc sống thực của hàng triệu người. Chỉ vào Vật, người ta gọi Tên nó. Gọi to Tên, người ta tìm ra Vật. Cách cư xử này đối với trẻ 7 tuổi là chuyện hoàn toàn tự nhiên. Do đó, cũng hoàn toàn tự nhiên sự tồn tại của thể đồng nhất Vật – Tên trong kinh nghiệm sống cá nhân. Chẳng có chuyện gì xảy ra, trong ngàn đời, khi các cá nhân không đi học và không hề biết môn Tiếng Việt lớp Hai – Công nghệ giáo dục.
Kinh nghiệm là có thật. Kinh nghiệm từng là và sẽ là và mãi mãi sẽ là kẻ bảo lãnh cho sự sống cá nhân. Kinh nghiệm bao giờ cũng nói lời cuối cùng để chọn một giải pháp.
Giải pháp cho bất cứ sự việc gì, rút cục, chỉ vì sự sống cá nhân. Triết lí sâu sắc nhất (dù nói thành lời hay không) của mỗi cá nhân chỉ đơn giản là: Gì thì gì, trước hết phải sống đã! Do đó, bất cứ giải pháp gì, cho bất cứ cá nhân nào, đều vì sự sống, vì sức sống, vì lẽ sống của cá nhân.
Quan hệ Vật thật – Tên gọi mở đường vào môn Tiếng Việt lớp Hai, vì sao?
Ngôn ngữ là một cách xử lí mối quan hệ giữa cái có thực và cái quy ước. Cái có thực là Vật thật chứa Nghĩa. Tên gọi là cái có sau gán cho Vật thật, do trí khôn người quy ước với nhau.
Nho gia gọi quan hệ giữa Vật và Tên là quan hệ giữa cái thực và cái danh. Khổng Tử đưa ra thuyết chính danh: Vua ra vua – Tôi ra tôi, cha ra cha – con ra con.
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại dạy cho Trẻ em cư xử với Vật thật theo đúng Nghĩa của nó.
Cư xử theo đúng Nghĩa của Vật thật còn gọi là cư xử theo đúng khái niệm của Vật thật.
Có hai loại khái niệm: Khái niệm kinh nghiệm và khái niệm khoa học.
Tên (tên gọi) vốn là sản phẩm của kinh nghiệm, được hình thành một cách cảm tính trực quan, trực tiếp. Kinh nghiệm nói chung là “máu” nuôi sự sống, vì vậy, lời khuyên của kinh nghiệm nghe rất dễ lọt tai. Nghe lời khuyên của kinh nghiệm, tư duy mấy ngàn năm (tính từ thời Khổng Tử) chỉ dùng độc một phương pháp gọi là tổng kết kinh nghiệm, nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm cái có thực trong quá khứ.

Mỗi Vật thật có một Tên gọi.
Nghe Tên, nhận ra Vật.
Thấy Vật, gọi ra Tên.
Thể đồng nhất trừu tượng Vật – Tên còn rất mơ hồ, mông lung, là mảnh đất màu mỡ làm nảy nòi phép quỷ biện ngôn từ: Thay Tên coi như thay Vật.
Cô Nếp từ làng ra tỉnh, đổi tên thành Hồng Lan.
Cô Nếp lấy chồng, đăng kí kết hôn, niêm yết ở Uỷ ban: Nguyễn Thị Hồng Lan (Nếp).
Nếp / Nguyễn Thị Hồng Lan nghe thì hai tên, nhưng chỉ có một cô nàng ấy, một Nghĩa ấy. Cách cư xử này cũng dễ gây ra sự mập mờ.
Cô Lan lấy chồng rồi!
Lan nào?
Cái nếp ấy mà!
Cô Hồng Lan đó!
Mối quan hệ Vật – Tên ở điểm xuất phát của chương trình là cơ hội đầu tiên cho Trẻ em nhận ra một cách tường minh sự khác biệt về bản chất giữa cái có thật (như Vật -tự - nó của Kant) và cái quy ước của một cộng đồng người gán cho Vật - tự - nó. Quá trình nhận ra một cách tường minh vai trò của ngôn ngữ trong cuộc sống, Học sinh học Tiếng Việt với tư cách học một bản mẫu ngôn ngữ. Dùng Tiếng Việt như dùng một Vật liệu ngôn ngữ của loài người.

Rời khỏi điểm xuất phát quan hệ Vật – Tên, bước cụ thể hoá đầu tiên là nhờ phân giải quan hệ này, tư duy tách Tên ra khỏi Vật, rồi chiếm lĩnh Tên, và chiếm lĩnh Tên bằng cách phân giải (phân tích) nó như phân tích một thực thể ngôn ngữ.
Phân giải Tên, tư duy phát hiện ra hai thành phần: Thành phần đặc trưng là âm thanh (Âm), nói ra và nghe được. Âm thanh ở đây là Tiếng, một hay nhiều Tiếng. Thành phần cốt lõi, gọi là cốt lõi vật chất của Tên gọi, là Nghĩa.
Nghĩa là cái có thực, ở ngay tại Vật thật, độc lập với tư duy. Âm làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền cho Nghĩa, hoàn toàn do quy ước của một cộng đồng người.
Tính quy ước của Tên nói lên sự khôn ngoan của tư duy, khi phân biệt rạch ròi:
Này là Âm, do tư duy quy ước đặt ra, độc đoán gán cho Nghĩa.
Này là Nghĩa, nó vốn có thế nào ở Vật thì cũng có y như thế ở Tên.
Tên là thể thống nhất Âm – Nghĩa. Ở nhà, em coi thể thống nhất ấy như một khối liền đồng nhất. Đến trường, học Bài 1 – Tên, em đem Tên ra phân tích (phân giải), phát hiện ra cấu trúc hai thành phần: Âm / Nghĩa.
Học ngoại ngữ coi như chỉ học Âm, xem xem Nghĩa quen thuộc ấy được gán Âm xa lạ nào.

Nghĩa là cốt lõi vật chất của ngôn ngữ, một khái niệm cơ bản đặc trưng cho môn Tiếng Việt lớp Hai.
Trẻ em học cách cư xử với Nghĩa bằng cách cư xử với Vật thật chứa Nghĩa ấy. Cách cư xử dễ nhận ra một cách trực quan là cách dùng Vật thật.
Cách dùng Vật (Vật thật) gọi là đúng, nếu dùng đúng Nghĩa của nó.
Nghĩa, một khái niệm ngôn ngữ học có nguồn gốc vật chất, có hình thái vật chất, có sự tồn tại vật chất, bên ngoài tư duy. Do đó, cách học Nghĩa tự nhiên nhất là Trẻ em tự mình “lấy ra” Nghĩa từ Vật thật (chứ không phải học thuộc lòng “định nghĩa” trong sách giáo khoa hay Từ điển).
Sáu, bảy năm ở nhà, Trẻ có một số vốn khổng lồ về ngôn ngữ, do đó, về Nghĩa. Chỉ có điều, cách học Nghĩa là cách bắt chước, bằng kinh nghiệm, đem đồng nhất Tên với Vật.
Phân biệt Tên và Vật, rồi phân biệt  Âm và Nghĩa, việc này có thể làm đơn giản nhất nhưng cũng là cơ bản nhất. Còn quan trọng hơn nữa là phải có sự thuyết phục một cách vật chất. Sẽ có hiệu quả vững chắc hơn cả, nếu dùng “tay” lấy ra Nghĩa, dùng “mắt” nhìn thấy Nghĩa, cuối cùng mới dùng tai nghe nói về Nghĩa.
Tay, mắt, tai vốn là những kẻ làm nên kinh nghiệm và dùng sức mạnh vật chất ấy tự thuyết phục mình nên nghe theo kinh nghiệm của người khác.
Mối quan hệ Vật – Tên chẳng có mấy giá trị ngôn ngữ học, sao lại cho xuất hiện ngay từ đầu?
– Để cho Trẻ em nhận ra nguồn gốc vật chất của ngôn ngữ, giá trị thực tiễn của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ vốn có tính quy ước, nhưng không phải tuỳ tiện, nó có logic của riêng nó. Cuối cùng, Học sinh lớp Hai phải tự mình nắm bắt được cả thân xác lẫn thần hồn và dùng đúng tiếng Việt. Đến mục tiêu ấy, không thể “đi tắt” được, nhưng có thể đi trên một đại lộ chuẩn mực ngắn nhất.
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại có thể xử lí quan hệ Vật – Tên theo cách làm bằng tay, thấy bằng mắt, nghe bằng tai.
Quan hệ Vật thật – Tên gọi ở điểm xuất phát còn rất thô, hiển hiện một cách trực quan, có thể đem ra phân giải (phân tích). Từ hành động phân tích, tách ra Tên như một thực thể, là đối tượng phân tích tiếp theo.
Phân giải Tên (Đối tượng) tách ra Nghĩa / Âm. Nghĩa là vật–tự–nó, còn Âm thì do quy ước gán cho nó. Không hề có quan hệ máu thịt giữa Nghĩa và Âm, nhưng có ràng buộc “pháp lí” kiểu như vợ – chồng vậy.
Cu cậu và cô nàng vốn xa lạ với nhau, nhưng khi đã kết làm một, thì tạo ra một thực thể mới, vận động theo quy luật mới.

Ngôn ngữ (Tiếng nói) là một Vật thay thế, do một cộng đồng người quy ước tạo ra.
Gọi là quy ước, nhưng không thể tuỳ tiện. Ở lớp Một, em đã biết mỗi Tiếng có cấu trúc ngữ âm của nó, ngay tại nó, không lệ thuộc vào bất cứ gì khác, kể cả Nghĩa.
Tên gọi (Tên) là một Vật thay thế bằng âm thanh, một “vật” mang hình thái âm thanh, có cấu trúc ngữ âm chặt chẽ, cho Học sinh lớp Hai dùng như vật liệu có sẵn.
Tên (Tên gọi) dùng để làm gì?
Tên gọi dùng để làm gì? Câu hỏi này nói lên nhu cầu thực tiễn, thực dụng của ngôn ngữ, của môn Tiếng Việt trong nhà trường.
Dùng là dùng cái có sẵn. Tiếng Việt em học ở nhà, học bằng bắt chước, học theo kinh nghiệm. Em đã nói sõi, nói tinh tế, thế mà môn Tiếng Việt ở trường là cái mới, lần đầu tiên được làm ra và em tự làm ra.
Tên ở Bài 1 là một sản phẩm được làm ra với tư cách mục đích. Một khi đã làm xong, mục đích (sản phẩm) ấy trở thành điều kiện – phương tiện phục vụ cho mục đích mới, tức là làm ra sản phẩm mới ở bên ngoài nó.

1. Bài 1 – Tên triển khai trên cơ sở Vật thật, lấy vật thật làm điểm xuất phát.
– Hằng ngày, em ăn gì?
– Hằng ngày, em mặc gì?
– Đến trường, em mang theo đồ vật gì?
– Ở nhà, em sống với những ai?
...
2. Từ Vật thật chuyển sang Vật thay thế.
– Ảnh
– Hình vẽ
– Tiếng nói
– Chữ viết
3. Vật thay thế là Tên (Tên gọi).
– Một Vật thật mang một Tên.
– Một Vật mang nhiều Tên.
– Nhiều Vật mang một Tên.
4. Tên người.
– Bí danh – Bút danh.
– Tên người Âu – Mĩ.
– Tên gọi người trong nhà.
5. Tên có trước / Tên có sau.
– Tên mượn từ Trung Quốc.
– Tên mượn từ phương Tây.
Tất cả vật liệu đều có sẵn trong kinh nghiệm của em, khi em chưa học lớp Hai.
Vấn đề cốt tuỷ ở đây là cách dùng vật liệu cũ để tạo ra chất liệu mới (tri thức).

Bài 2 – Từ đi qua cánh cửa Nghĩa mà Bài 1 – Tên đã mở ra.
Nghĩa là một khái niệm cơ bản của môn Tiếng Việt lớp Hai. Từ cách cư xử với vật thật chứa Nghĩa, em học cách cư xử với Nghĩa ấy. Cách cư xử dễ nhận ra một cách trực quan là cách dùng Vật thật.
Nghĩa là tính chất làm nên sự sống, sức sống, lẽ sống của Vật thật. Vật nào Nghĩa ấy. Cách dùng gọi là đúng, nếu dùng đúng Nghĩa của Vật thật.
Nghĩa có nguồn gốc vật chất, có hình thái vật chất, có sự tồn tại vật chất bên ngoài tư duy. Do đó, Trẻ em học Nghĩa thì phải tự mình “lấy ra” Nghĩa một cách “vật chất” ở hình thái vật (chứ không phải nhớ thuộc lòng định nghĩa trong Từ điển).
Sáu, bảy năm ở nhà, Trẻ đã có số vốn ngôn ngữ khổng lồ, vững chắc, chất đầy kho kinh nghiệm cá nhân.
Bắt đầu học nói, Trẻ tiếp nhận cả khối liền (thể đồng nhất) Vật – Tên. Vật ấy thì Tên ấy. Tên ấy thì Vật ấy.
Những câu hỏi như: Em tên gì? Cái này là cái gì? ... đều là những câu hỏi về Nghĩa.
Lần đầu tiên em làm quen với Nghĩa lấy từ quan hệ Vật – Tên. Em học cách tách đôi thể đồng nhất ấy, lấy ra rạch ròi: Này là Vật, này là Tên.

Nghĩa là cốt thép của ngôn ngữ.
Câu chuyện cốt tuỷ về học Tiếng Việt của học sinh lớp Hai là cách cư xử với Nghĩa, thông qua cách dùng Nghĩa. Em dùng Nghĩa thế nào thì em hiểu Nghĩa thế ấy.
Học Bài 1 – Tên, em đã dùng Nghĩa bằng cách dùng nguyên cả cái (Vật) chứa Nghĩa, như dùng nguyên một đồ vật, một công cụ.
Một cái (Vật) có tên là búa. Cách dùng cái búa trong thực tiễn là cách định nghĩa chuẩn xác nhất Nghĩa búa.
Lên lớp Hai, em học cách “tinh chế” Nghĩa thành một sản phẩm thuần khiết, độc lập, tách ra khỏi Vật (chứa Nghĩa ấy), giống như hồi lớp Một em từng tách Âm ra khỏi Nghĩa.
Dùng cái búa đóng đinh là cách dùng đúng nghĩa “búa”.
Vẫn dùng cái búa ấy, nhưng lần này lấy cán giã tiêu, thì cái búa ấy mang Nghĩa chày, là cái chày.
Cách dùng trong thực tiễn là thao tác. Em học “định nghĩa” Nghĩa bằng cách thao tác với Nghĩa.
Cách dùng Vật chứa Nghĩa như thế nào thì hiểu Vật ấy mang Nghĩa ấy.
Thao tác thế nào thì hiểu Nghĩa thế ấy.

Tên (sản phẩm của Bài 1) nay Bài 2 dùng làm Vật liệu để tạo ra chất liệu mới, gọi là Nghĩa.
Bài 1 – Tên. Cấu trúc hai thành phần của Tên:
Thành phần nghe được (Tiếng) hay nhìn thấy (Chữ) gọi là hình thức.
Thành phần giúp ta nhận ra Vật thật gọi là Nghĩa.
1. Đặt Tên / dùng Tên
Đặt Tên là quy ước (Tiếng).
Dùng Tên trước hết là dùng Vật thật mang tên ấy.
2. Phân tích Tên gọi
– Tách Nghĩa ra.
– Phân tích theo Nghĩa.
Mẫu
Trường tiểu học Trần Quốc Toản
Trường / tiểu học / Trần Quốc Toản
Từ sự phân tích này lấy ra các Nghĩa. Có ba Nghĩa.
• Lấy Nghĩa từ Vật thật.
• Lấy Nghĩa làm căn cứ để xác định Từ. Nghĩa có thể tồn tại tự nó, độc lập, như một thực thể sống.
Lấy Nghĩa làm căn cứ. Thao tác trên Nghĩa là cách định nghĩa Từ. Đã lấy Nghĩa làm căn cứ thì không lệ thuộc vào hình thức, dù có 1 tiếng, 2 tiếng, 3 tiếng hay nhiều hơn (để dễ chấp nhận tiếng nước ngoài: pê-ni-xi-lin là một Từ). Lúc này, Trường / tiểu học / Trần Quốc Toản gắn với 3 vật thật, có 3 Nghĩa, nên có 3 Từ.

3. Nghĩa là khái niệm chứa cả xác lẫn hồn của môn Tiếng Việt lớp Hai. Có thể nói quá đi: Tiếng Việt lớp Một là Âm, Tiếng Việt lớp Hai là Nghĩa.
Nghĩa là một thành phần của Từ.
Từ là một khái niệm về Nghĩa.
Lẽ sống của Từ là vì Nghĩa. Mỗi Từ chỉ có một Nghĩa.
Nói Từ đa nghĩa cũng như nói cái cốc đa nghĩa, thấy sao nói vậy.
Nghĩa 1: Cái cốc dùng để cắm hoa..
Nghĩa 2: Cái cốc dùng để chặn giấy.
Nghĩa 3: Cái cốc dùng làm quà tặng.
Nghĩa của Từ không thể trơ trụi một mình, mà phải bọc trong Tiếng. Nghĩa bọc trong Tiếng, cả khối liền ấy gọi là Từ.
Nếu 1 Tiếng bọc không kín thì dùng 2 Tiếng.
Nếu 2 Tiếng bọc không kín thì dùng 3, 4 hay nhiều Tiếng hơn. Trong mọi trường hợp, nếu chỉ có một Nghĩa thì chỉ có một Từ.
•  Từ bọc trong 1 Tiếng thì gọi là Từ một Tiếng.
•  Từ phải bọc bằng 2 Tiếng mới kín thì gọi là Từ hai Tiếng.
4. Phân loại Từ
Lấy Vật thật chứa Nghĩa làm tiêu chí phân loại: Sự vật / Hành động của sự vật / Tính chất của sự vật.
5. Một số Từ khó dùng, dễ nhầm lẫn, giúp cho học sinh thấy tính hàn lâm của tri thức nhà trường, khác với ngôn ngữ hằng ngày ở nhà.
Bài 3 – Câu dùng sản phẩm của Bài 2 – Từ làm vật liệu để tạo ra sản phẩm mới: Câu.
Câu là sản phẩm mới làm ra từ Vật liệu có sẵn là Từ.
Từ / Câu, hai khái niệm cơ bản, là cốt thép của môn Tiếng Việt tiểu học.
Môn Tiếng Việt tiểu học có hai “phân môn” cốt lõi: Ngữ âm và Ngữ pháp, được thiết kế theo tinh thần – nội dung – phương pháp của hai thành tựu khoa học hiện đại, được chọn làm chuẩn mực:
Ngữ âm tiếng Việt (1977)
Ngữ pháp tiếng Việt (1983)
Từ sách chuyên khảo của nhà khoa học sang sách giáo khoa cho Trẻ em là một bước nhảy sinh mệnh, quyết định bởi hai nhân tố cơ bản của Nghiệp vụ sư phạm:
Một, thiết kế sách giáo khoa.
Hai, công nghệ thực thi trên lớp.
Tôi đã từng đưa Phép toán đại số trong lý thuyết nhóm và Hệ đếm xuống lớp Một, ở Hà Nội.
Tôi đã từng đưa thành tựu khoa học ngữ âm tiếng Việt (1977) dùng làm giáo trình cho sinh viên năm thứ 3 chuyên ngành Ngôn ngữ học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp Một, từ 1978.
Từ / Câu, hai khái niệm cơ bản này tôi đưa vào lớp Hai, khi trong tay đã có công nghệ thực thi tin cậy, đảm bảo ai cũng học được, học gì được nấy, học đâu chắc đấy!
Để làm ra Từ, Tiếng là vật liệu có sẵn.
Từ rồi sẽ là Vật liệu đúc sẵn dùng để làm ra Câu, như các viên gạch hay các vật liệu đúc sẵn dùng để xây nhà.
Có thể “đúc sẵn” khái niệm khoa học. Từ là một khái niệm khoa học. Một khái niệm khoa học thì có cấu trúc tường mih: có các thành phần cấu thành, mỗi thành phần giữ một chức năng trong cấu trúc. Căn cứ vào cấu trúc của khái niệm, có thể làm ra nó.
Cấu trúc của khái niệm khoa học là cái có sẵn với tư cách thành tựu khoa học của nhà khoa học. Nghiệp vụ sư phạm chọn khái niệm có sẵn như ra chợ mua hàng: của ngoài chợ, có quyền chọn lựa, tuỳ theo nhu cầu và túi tiền mình có.
Nghiệp vụ sư phạm là năng lực thực có, thực có một cách vật chất, tường minh, thực có một cách dân dã: ai làm cũng được, làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy.
Câu là một khái niệm khoa học thì có cấu trúc. Học sinh lớp Hai bắt đầu làm quen với Câu có cấu trúc đơn giản nhất, được bảo lãnh một cách tường minh, bên ngoài đầu óc. Do đó, có thể tổ chức và kiểm soát quá trình làm ra Câu.
Học sinh lớp Hai tự làm ra Câu, chứ không phải nghe giảng rồi học thuộc lòng định nghĩa Câu trong sách.
Học sinh lớp Hai đã nói sõi, nói tinh tế, nói đúng Câu, thế mà đến trường vẫn phải học Câu, thì học cái gì?
Học Câu, nói dài dài ra là chiếm lĩnh Đối tượng – Câu. Câu cần được chiếm lĩnh, tức là còn chưa có và phải làm ra. Nếu vậy, Câu nói ở nhà, dù em nói đúng cũng chưa phải là Câu?
Nói đúng Câu ở nhà / Học ở trường để nói đúng Câu, hai chuyện khác nhau, thuộc hai trình độ phát triển cao thấp hơn nhau.
Chuyện năm ngoái. Ở nhà, em nói sõi, nói chuẩn xác từng Tiếng. Đến trường, em lại bắt đầu học Khái niệm Tiếng và phải mất một năm mới học xong. Sao vậy?
Ở nhà, Tiếng là một khối liền âm thanh, phát âm một lần trọn vẹn.
Đến trường, em tìm hiểu cái khối liền âm thanh ấy được cấu tạo như thế nào: có các thành phần nào, mỗi thành phần ở vị trí nào, giữ chức năng gì trong cấu trúc ngữ âm của Tiếng.
Tiếng em nói hằng ngày ở nhà / Khái niệm ngữ âm của Tiếng em học ở trường là hai chuyện khác nhau, chênh nhau một tầm nguyên lý: từ kinh nghiệm sang khoa học.
Câu em nói ở nhà / Câu em học ở trường thuộc hai tầm nguyên lý: từ kinh nghiệm sang khoa học.
Câu, một khái niệm khoa học, thì có cấu trúc. Có cấu trúc thì có thể tường minh hoá các thành phần cấu thành và xác định chức năng của mỗi thành phần.
Vật liệu để làm ra Câu là Từ, nhưng chất liệu của Câu vừa phụ thuộc vào các Từ, vừa phụ thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng... của mỗi Từ trong Câu, tức là phụ thuộc vào công nghệ làm ra Câu, quen gọi là ngữ pháp.
Ngữ pháp có sự sống, có sức sống, có lẽ sống làm ra Câu (đặt Câu) như một thứ công nghệ làm ra sản phẩm tất yếu.
Có “công nghệ” này trong tay, ai cũng có thể làm ra sản phẩm tất yếu: nói đúng Câu, viết đúng Câu.
Làm ra Câu như một sản phẩm (mục đích) và dùng Câu như một phương tiện là hai việc khác hẳn nhau.
Công nghệ làm ra Câu để sau đó, dùng Câu làm việc khác: hai mục đích khác nhau, hai công đoạn khác nhau về chất.
Nhiệm vụ cơ bản của lớp Hai là làm ra Câu, còn dùng Câu lúc này thì chỉ là một cách kiểm tra, thẩm định sản phẩm vừa làm ra, tức là vẫn trong giới hạn của công nghệ làm ra sản phẩm (hình thành khái niệm) của lớp Hai.
Đặt Câu là bước chuẩn bị cho Tập làm văn sau này.

Câu hai thành phần là Câu đơn giản nhất. Mỗi thành phần là một Từ, đảm nhận một chức năng trong Câu.
Vấn đề cốt lõi của khái niệm Câu là cấu trúc Câu. Nắm được một cấu trúc thì phải làm rõ ra hai chuyện: Một, nó có các thành phần cấu thành nào. Hai, mỗi thành phần giữ chức năng gì.
Căn cứ vào cấu trúc Câu mà làm ra Câu (hình thành khái niệm Câu). Làm ra Câu là cách hiểu (khái niệm Câu) đáng tin cậy nhất, hơn hẳn cách học thuộc lòng định nghĩa.
Cũng như trong sản xuất vật chất, Câu (sản phẩm được làm ra) phải dùng được, phải vận hành được, tức là một, Câu phải đủ hai thành phần, hai, mỗi thành phần đảm nhiệm một chức năng trong Câu. Một Câu như thế gọi là Câu đúng.
Ngay từ đầu, em phải làm ra Câu đúng. Căn cứ vào cấu trúc Câu mà làm ra Câu, mà kiểm tra xem Câu có đúng không.
Ở nhà, nếu em nói chưa đúng Câu thì người lớn uốn nắn, nói lại thế này... Bằng mẫn cảm ngôn ngữ, Trẻ có thể chữa Câu sai, nói lại Câu đúng. Trẻ nói đúng, nhưng không lý giải nổi vì sao sai, vì sao đúng, lấy gì làm chuẩn mực? Chuẩn mực này đến trường, nhờ học Tiếng Việt lớp Hai, em mới biết: Cấu trúc Câu.

Làm ra Câu để dùng như rèn con dao để dùng. Cần thấy rõ sự khác biệt về chất: Công đoạn 1 làm ra sản phẩm với tư cách mục đích. Công đoạn 2 dùng sản phẩm, tức là biến mục đích đã đạt thành phương tiện phục vụ cho mục đích mới.
Sản phẩm là hình thái định hình của Mục đích, cũng là hình thái kết tinh của quá trình làm.
Muốn phát triển, trước hết phải tạo ra sản phẩm mới: từ mục đích đã đạt đi đến mục đích tiếp theo, trên con đường chuẩn mực.
Thợ rèn rèn con dao phải biết rõ cấu trúc của nó: có hai thành phần cán và lưỡi. Mỗi thành phần có một chức năng, cán để cầm. lưỡi để thái rau.
Dùng con dao đúng là cầm lấy cán, dùng lưỡi thái rau.
Nếu lấy cán giã tiêu, lấy sống dao đập xương thì dùng dao không đúng (không đúng khái niệm dao), nhưng có thể đúng với khái niệm chày hay búa.
Muốn gì thì gì, trước hết phải làm ra Câu đúng: nói đúng Câu, viết đúng Câu.
Yêu cầu làm đúng là yêu cầu quan trọng đầu tiên.
Làm đúng hiểu là làm ra Câu có đủ hai thành phần, mỗi thành phần đảm nhận một chức năng.
Trong tư duy của Trẻ, Câu phải được hiểu rạch ròi: này là thành phần, này là chức năng.
Câu chủ – vị / Câu đề – thuyết: chức năng (của các thành phần câu) quan trọng đến mức dùng để đặt tên Câu.
Quyển Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng quan hệ giữa hai thành phần là quan hệ đề – thuyết.
Cao Xuân Hạo nhiệt liệt cổ vũ cho quan hệ đề – thuyết.
Tiếng Việt lớp Hai Công nghệ giáo dục chọn quan hệ chủ – vị, vì những lý do nghiệp vụ.
1– Học sinh lớp Hai học Câu từ nguồn gốc xuất phát của nó trong thực tiễn đời sống: Trước hết phải “nắm bắt” được Sự việc rồi “dịch” ra Câu và ngược lại.
2– Học sinh cần cảm nhận sự việc một cách cảm tính, trực quan, bằng kinh nghiệm cá nhân. Sự việc là cái có thật, làm cốt lõi cho tư duy.
3– Ngữ pháp tiếng Việt vốn mãi dựa vào kinh nghiệm của nước ngoài, chủ yếu là Tiếng Pháp. Do đó, quan hệ chủ – vị đã chi phối Tiếng Việt từ lâu.
4– Cần chuẩn hoá quan hệ chủ – vị cho dễ dùng, để viết cho trọn Câu, để không thể viết Câu cụt Câu què.
5– Để học Tiếng nước ngoài, dễ hơn, chắc chắn hơn...
6– Chừng nào đã thật thông thạo quan hệ chủ – vị thì có thể tìm hiểu quan hệ đề – thuyết.

Học khái niệm Câu theo cấu trúc Câu. Mở đầu, chọn Câu đơn giản nhất, có cấu trúc hai thành phần. Vì sao phải có thành phần? Vì muốn vận hành được, Câu phải có hai chức năng phối hợp với nhau: Thành phần này giữ chức năng Chủ, thành phần kia giữ chức năng Vị.
Người đời quen gọi theo chức năng
Ai hỏi như thế?
- Ông Bản chủ tịch.
Ông Bản chủ tịch là nói tắt. Học sinh lớp Hai phải phân biệt rành rẽ: Một, ông Bản là một thành phần của Uỷ ban nhân dân xã. Hai, ông Bản giữ chức (chức vụ, chức danh, chức năng) chủ tịch của Uỷ ban ấy.
Vì sao trong Câu, không gọi Chủ ngữ mà chỉ gọi Chủ?
Nếu gọi chủ ngữ thì khác gì bà con ở quê gọi ông Bản chủ tịch.
Lại nữa, thành phần của Câu không phải là Ngữ, mà Từ thì sao? Thì cứ gọi là chủ ngữ (không gọi chủ từ) cũng không sao, vì Từ là một Ngữ chỉ có chính tố, không có phụ tố.
Tư duy của Trẻ lớp Hai phải hướng theo tư duy khoa học, phải rành rẽ: này là thành phần Câu, này là chức năng của mỗi thành phần. Thiếu thành phần thì cấu trúc không tồn tại (ví dụ, không thành Câu). Thiếu chức năng thì Câu không vận hành được (không có Nghĩa).

Làm ra Câu là cơ hội dùng Từ (đã có sẵn, là sản phẩm của Bài 2).
Dùng Từ là cách hiểu Từ đáng tin cậy nhất. Dùng Từ làm làm ra Câu, một công đôi việc, vừa củng cố Từ, vừa làm ra sản phẩm mới.
Từ / Câu đều tự “định nghĩa” bằng cấu trúc của mình.
Từ có cấu trúc hai thành phần: Hình thức / Nghĩa.
Câu cũng có Hình thức / Nghĩa của mình.
Hình thức (hình thái bên ngoài, hình thái cảm tính, hình thái trực quan) cho ta cảm nhận bằng các giác quan: Hình thái âm thanh thì nghe được. Hình thái chữ viết thì nhìn thấy.
Nghĩa không nhìn thấy, không nghe thấy, nhưng hiểu được. Cách hiểu đáng tin nhất là dùng: Dùng đúng Nghĩa hay không.
Cấu trúc là một thể hoàn chỉnh, toàn vẹn, người ngoài không thể thêm, không thể bớt theo ý mình.
Mỗi thành phần là một thể toàn vẹn, đủ sức đảm nhận một chức năng trọn vẹn, trao riêng cho mình.
Học Câu, học sinh lớp Hai trước hết phải làm ra Câu, như một mục đích. Muốn làm ra Câu thì phải căn cứ vào Cấu trúc câu: Có đủ hai thành phần ? Thành phần nào làm chủ (giữ chức vụ, chức năng chủ), thành phần nào làm vị?
Sau khi làm ra Câu, học sinh lớp Hai phải biết dùng như một phương tiện phục vụ cho mục đích khác.

Từ / Câu đều có nguồn gốc vật chất, có căn cứ vật chất, độc lập với các cá nhân, chính là các Vật thật bên ngoài tư duy.
Hình thái (hình thức) tồn tại của Vật thật là căn cứ, là chỗ xuất phát, cũng là chỗ trở về của tư duy.
Từ / Câu là những phương tiện do người sáng tạo ra, dùng để tư duy. Chỉ có điều, đối với Trẻ em thì những phương tiện ấy không có sẵn, mà em phải tự làm ra, như một mục đích.
Quá trình học ở nhà trường hiện đại là một quá trình được tổ chức và kiểm soát sao cho đối với các môn học khoa học thì ai học cũng được, học gì được nấy, học đâu chắc đấy.
Môn Tiếng Việt tiểu học có ba khái niệm cơ bản (ba cột trụ, ba khối thép): Tiếng – Từ – Câu.
Quá trình học theo Nghiệp vụ sư phạm hiện đại là quá trình Trẻ em tự làm ra sản phẩm cho chính mình.
Mỗi sản phẩm có chất liệu trong một Vật liệu. Mỗi sản phẩm, với chất liệu ấy, với Vật liệu ấy, thì có năng lượng ấy cấp cho sự phát triển cá nhân .
Khái niệm khoa học không thể đem gói gọn trong định nghĩa: Từ là... Câu là...
Mỗi khái niệm khoa học làm ra như một sản phẩm, có Chất liệu / Vật liệu đặc trưng cho nó, bên ngoài sách giáo khoa.

Mỗi khái niệm khoa học thiết kế thành một Bài.
Khái niệm Tiếng phải học một năm lớp Một.
Khái niệm Câu phải học một học kì lớp Hai.
Môn Tiếng Việt lớp Hai có ba Bài, trừ bài số 0, đã học qua ở lớp Một, nhưng được thiết kế lại, theo nhu cầu phát triển của lớp Hai.
Bài 1 – Tên vừa làm ra sản phẩm mới (mục đích mới), vừa chuẩn bị Vật liệu (phương tiện – điều kiện) cho Bài 2.
Bài 2 – Từ vừa làm ra sản phẩm mới (mục đích mới, bước phát triển mới), vừa chuẩn bị Vật liệu (phương tiện – điều kiện) cho Bài 3.
Bài 3 – Câu là một sản phẩm mới đang làm ra, thiết kế thành 120 trang sách cho học sinh và 265 trang sách cho Thầy giáo.
Học xong Bài 3 – Câu, em có thể dùng suốt đời, đáp ứng được nhu cầu sống của cả đời người.
• Một, bất cứ sự việc nào em cũng có thể “dịch ra” Câu.
• Hai, bất cứ Câu nào em cũng nói và viết đúng (không có câu cụt, câu què).
Học xong lớp Hai, về cơ bản, em học xong Ngữ pháp tiếng Việt.

Các khái niệm Tiếng – Từ – Câu vốn có sẵn trong cuộc sống thực. Các nhà ngôn ngữ học đã mô tả cấu trúc của từng khái niệm, thì khó gì không làm lại được việc đó.
Khái niệm Tiếng đưa đến cho học sinh lớp Một từ năm 1978, vì năm 1977 các nhà ngôn ngữ học mới tổng kết làm giáo trình chính thức cho sinh viên năm thứ ba ngành ngôn ngữ học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Khái niệm Từ / Câu được chọn từ Ngữ pháp tiếng Việt, do Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1983.
Các khái niệm khoa học không có “to nhỏ, lớn bé” về kích cỡ. Hạt cát hay Vũ trụ đều chiếm chỗ như nhau trong tư duy (chỗ chứa cấu trúc của khái niệm).
Khái niệm Phép toán đại số có cùng một cấu trúc với Phép cộng số học.
Hệ nhị phân có cùng một cấu trúc như hệ thập phân.
Vấn đề khó / dễ, được / không, hay / dở... trong khoa học, rút cục, thâu tóm vào khái niệm khoa học. Đã là khái niệm khoa học thì có cấu trúc và tư duy khoa học có thể tường minh hoá cấu trúc ấy. Toàn bộ “bí mật nghiệp vụ” ở chỗ ấy.
Khái niệm Tiếng không khó hơn, không dễ hơn khái niệm Từ.
Khái niệm Từ không khó hơn, không dễ hơn khái niệm Câu.

Đoạn đường xa gần, không phải là không gian trực quan dài ngắn, vấn đề là cách đi quan đoạn đường ấy.
Một giờ đi bộ được 5 km.
Một giờ đi máy bay được 1000 km, tức là 200 lần nhanh hơn.
Cứ học theo chủ điểm, cứ loanh quanh các chủ điểm thì không bao giờ đến khái niệm khoa học Tiếng – Từ – Câu, với tư cách các khái niệm chính thống, chính cống của ngôn ngữ học đương thời.
Nắm được ba khái niệm Tiếng – Từ – Câu thì sai khiến được Tiếng nói, bắt nó phục vụ tận tâm tận lực cho cuộc sống cá nhân.
Nắm được khái niệm khoa học thì phải nắm được cả phần xác lẫn phần hồn của nó. Phần xác là cấu trúc của khái niệm khoa học. Cách nắm tốt nhất, tin cậy nhất là làm ra nó, làm bằng tay, bằng mắt, bằng mồm, bằng lưỡi..., bằng các giác quan, tự mình làm, cộng tác với người khác cùng làm. Sau khi đã làm xong thì dùng lời mô tả nó, khẳng định nó, nắm lấy phần hồn của nó. Có nó rồi, muốn kiểm tra độ trung thành của nó thì phải dùng nó, sai khiến nó, bắt nó phục vụ cho mục đích khác.
Nghe giảng định nghĩa, nhớ thuộc lòng định nghĩa, thì nhớ đó quên đó. Nhớ định nghĩa để thi, làm bài lấy điểm thì được, còn để dùng trong cuộc sống thì định nghĩa được nhớ ấy dễ là trò chơi chữ nghĩa của mấy cu cậu học trò, dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.

Môn Tiếng Việt lớp Hai thiết kế hai khái niệm Từ - Câu theo chuẩn mực đã xác lập.
Tính chuẩn mực hiểu là tính hàn lâm, chính cống, chính thống, đã được khoa học đương thời xác lập.
Mỗi khái niệm là một sản phẩm được làm ra với tư cách mục đích. Sau đó, khái niệm ấy được dùng với tư cách phương tiện phục vụ cho mục đích tiếp theo (làm ra sản phẩm mới). Sự chuyển hoá này tuân theo logic phát triển của hệ thống khái niệm.
Mỗi sản phẩm (khái niệm) làm ra lần đầu phải thật đơn giản, rồi về sau ngày càng phát triển phức tạp hơn.
Câu đơn giản nhất có hai thành phần. Mỗi thành phần có một Từ, giữ một chức (chức vụ, chức danh, chức năng) trong Câu.
Giữ chức năng chủ thì dùng Từ này, còn chức năng vị thì giao cho Từ kia.
Câu có nguồn gốc vật chất trong thực tiễn đời sống, tại một sự việc (sự kiện, sự tình). Một sự việc đơn giản nhất do hai nhân tố (thành phần) khác tên tạo ra (đảm nhận hai chức năng khác nhau).
Một sự việc có hai hình thái (hình thức): một “vật chất”, có thật, bên ngoài đầu óc, một do quy ước, là “Vật thay thế” – ngôn ngữ.

Vật thật / Vật thay thế, lần đầu học sinh làm quen từ lớp Một với Âm và Chữ.
Vật thật hiểu là những gì có thực, có thể cảm nhận một cách cảm tính, trực quan, bên ngoài cá nhân.
Không nhất thiết lúc nào cũng cứ phải là Vật thật, mà giáo dục nhà trường có thể dùng Vật thay thế, nhưng chọn sao cho, về mặt cảm quan, gần nhất với Vật thật, ví dụ, ảnh chụp, hình vẽ, sa bàn...
Sự phân biệt Vật thật / Vật thay thế cũng chỉ là tương đối.
• Tiếng nói có âm thanh coi như Vật thật, thì Vật thay thế là Chữ.
• Sự việc là Vật thật. Câu diễn tả Sự việc ấy là Vật thay thế.
Dù ở hình thái (hình thức) nào, Đối tượng cần chiếm lĩnh vẫn là một. Nghiệp vụ sư phạm cổ truyền chỉ biết độc một hình thái của Đối tượng (khái niệm) là hình thái ngôn ngữ, do đó, chỉ biết học thuộc lòng định nghĩa.
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại tổ chức cho học sinh thao tác trên Đối tượng ở hình thái vật chất, vật thể, bên ngoài đầu óc. Ở đó, có thể phân giải một cách cảm tính các thành phần cấu thành khái niệm (đối tượng), lại còn được thuyết phục bằng kinh nghiệm cá nhân. Vật thay thế thường dùng với Từ - Câu: mô hình, sơ đồ, công thức, chữ...

Chiếm lĩnh đối tượng / Hình thành khái niệm khoa học không phải học thuộc lòng định nghĩa, mà phải biết đích xác cấu trúc của khái niệm (đối tượng).
Cấu trúc của Đối tượng là một thể toàn vẹn. Mỗi thành phần của cấu trúc là một thể toàn vẹn.
Cấu trúc của Từ có hai thành phần: Hình thức // Nghĩa. Hình thức là một thể toàn vẹn, dù có 1 Tiếng, 2 Tiếng hay nhiều hơn. Nghĩa là một thể toàn vẹn.
Thể toàn vẹn hiểu là có thế nào là có thế ấy, người ngoài không thể tuỳ tiện thêm, bớt, điều chỉnh...
Nghĩa là một thể toàn vẹn. Vật thật vốn có thế nào, một thể toàn vẹn, thì Nghĩa có thế ấy, một thể toàn vẹn – thế thôi, biết sao “to nhỏ” mà bảo Nghĩa của Từ là nhỏ nhất?
Ăn, uống, ăn uống, ăn ăn uống uống là 4 thể toàn vẹn, là 4 Từ. Mỗi Từ có một Nghĩa. Một Nghĩa là một thể toàn vẹn.
Cấu trúc Câu cũng có hai thành phần: Hình thức // Nghĩa.
Hình thức của Câu là hình thức các Từ ghép lại như một tổng số học (Tiếng Việt không biến thái).
Nghĩa của Câu do Nghĩa của các Từ thành phần tác động lẫn nhau theo chức năng của mình cùng tạo ra.
Cỗ máy do các thành phần ghép lại, còn sự vận hành của cỗ máy thì do chức năng các thành phần hợp đồng tạo ra.

Thể cố định / Thể biến đổi là một tiêu chí để phân biệt Từ / Câu.
Từ là thể cố định (cả hình thức lẫn Nghĩa) ví như các viên gạch đã nung.
Câu là thể biến đổi, ví như các ngôi nhà gạch khác nhau đều xây bằng những viên gạch có sẵn như nhau.
Từ là của có sẵn mãi mãi. Câu được làm ra mỗi lúc một khác. (Thế nên có Từ điển, không có Câu điển).
Thể cố định: vốn có thế nào thì mãi mãi nguyên thế ấy, một thể toàn vẹn.
Thể biến đổi là sản phẩm được tạo ra, theo một cấu trúc (khuôn) ổn định. Có thể thay các Từ - thành phần, nhưng giữ nguyên các chức năng trong Câu.
Sự sống, sức sống, lẽ sống của Từ và Câu là Nghĩa.
Cuộc sống tồn tại, vận động, phát triển là nhờ Nghĩa của Vật thật. Khi chuyển vào Từ, Câu thì Nghĩa cấp năng lượng cho tư duy.
Mỗi Từ chỉ có một Nghĩa.
Mỗi Câu chỉ có một Nghĩa.
Nếu có thật Từ đa nghĩa, Câu đa nghĩa thì ở trong trường hợp cụ thể, vẫn chỉ có một Nghĩa đích thực, là chính nó.
Nghĩa của Từ cho biết cái lí tồn tại, lẽ sống của sự vật, cái làm cho sự vật là chính nó.
Nghĩa trong Câu của tất cả các thứ tiếng trên thế giới là một. Dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt hay dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh thì chỉ thao tác trên Hình thức, giữ nguyên Nghĩa.

Từ là một thể toàn vẹn, được cố định hoá thành thể cố định, cứ thế tự tồn tại trong đời, nguyên khối, nguyên tảng, toàn vẹn.
Câu là một thể biến đổi, nhưng chỉ thay đổi thành phần, còn các chức năng thì ổn định. Thành phần nào thay vào thì đảm nhận chức năng đã có sẵn ấy.
Ông Bản không làm chủ tịch nữa. Ông Bàn mới được bầu thay thế thì đảm nhận chức năng chủ tịch ấy.
Sự việc mỗi lúc có thế nào thì nó là thế ấy. Câu phải phù hợp với Sự việc, như may đo quần áo theo từng người.
Từ / Câu có Hình thức và có Nghĩa. Nghĩa của Từ là Nghĩa của Sự vật, Nghĩa của Câu là Nghĩa của Sự việc (Sự kiện, Sự tình).
Mẫu. nước sôi.
Hình thức. Có hai Tiếng: nước / sôi
Nghĩa. Xét xem nước sôi là Sự vật hay Sự việc.
a. Nếu nước sôi là một sự vật – một Từ thì dùng nguyên cả khối liền “nước sôi”.
nước sôi // đang trào ra.
cho xin một ít // nước sôi.
b. Nếu nước sôi là một Sự việc – một Câu thì có thể phá vỡ thực thể ấy, ví dụ chen giữa, thêm sau.
nước // đang sôi.
nước // sôi rồi.
Vấn đề không phải ở chỗ dùng mẫn cảm với tiếng mẹ đẻ để nhận ra Câu / Từ, mà ở cáh tư duy biết phân tích Vật thật.
Mối quan hệ Hình thức / Nghĩa của Câu trong mỗi thứ tiếng một khác.
Hình thức có hai loại: có biến thái và không biến thái.
Nghĩa là nghĩa của Sự việc, do các thành phần tạo ra, theo chức năng của mình trong từng Câu.
Hình thức Câu do một cộng đồng người quy ước với nhau.
Nghĩa của Câu là Nghĩa của Sự việc (Sự kiện, Sự tình) do logic nội tại của Sự việc quy định. Việc của tư duy là dùng hình thức ngôn ngữ thay vào nó.
Việc số 1: cần biết rõ Sự việc, bằng cách phân tích nó, chỉ ra các thành phần cấu thành và chức năng của mỗi thành phần tạo ra Sự việc ấy.
Việc số 2: dùng Vật thay thế là Câu. Câu diễn đạt Sự việc, tức là khoác vào Sự việc có thật một hình thái nhân tạo quy ước, là Câu.
Tính quy ước này gọi là Ngữ pháp, dùng cả hai chiều:
– Từ Sự việc chuyển sang Câu.
– Từ Câu trở về Sự việc.
Dịch là chọn sự tương ứng về Ngữ pháp giữa các Câu thuộc các ngôn ngữ khác nhau.
Một Sự việc chỉ có một Nghĩa.
Một Câu chỉ có một Nghĩa.
Lúc đầu, hãy “cứng nhắc” như thế để xác lập quan hệ Sự việc – Câu (Vật thật – Quy ước).

Lớp Một. Học sinh học cách phân giải Cấu trúc ngữ âm của Tiếng, rồi dùng chữ ghi âm theo luật chính tả. Thế là, lần đầu tiên em biết Tiếng nói (ngôn ngữ) có hai hình thái (hình thức): Âm thanh / Chữ viết.
Lớp Hai. Em dùng chữ như một phương tiện phục vụ cho mục đích mới (làm ra sản phẩm mới): Khái niệm mới.
Một khái niệm khoa học có cấu trúc của nó. Cấu trúc của khái niệm ngôn ngữ đơn giản nhất chỉ có hai thành phần, một là Hình thức (hình thái): âm thanh hay chữ viết. Thành phần thứ hai là Nghĩa.
Hình thức nói chung là cái có thể cảm nhận bằng các giác quan, bằng kinh nghiệm, thường là cái bên ngoài, cái vỏ bọc...
Nghĩa “đơn giản nhất” cho học sinh tiếp cận trước tiên thì như một thể toàn vẹn, nguyên tảng, nguyên khối (người ta gọi là “nhỏ nhất”, nhưng biết thế nào là “to”, “nhỏ”).
Lần đầu tiên tiếp cận với ngữ âm, em cũng bắt đầu từ Tiếng như một thể toàn vẹn, nguyên tảng, nguyên khối.
Khái niệm đặc trưng cho lớp Một là Ngữ âm, cấu trúc ngữ âm của Tiếng.
Khái niệm đặc trưng cho lớp Hai là Nghĩa, bắt đầu từ Nghĩa như một thể toàn vẹn (có người nói là “nhỏ nhất”).

Nguồn gốc của Nghĩa là ở Vật thật, ở những gì có thực làm nên cuộc sống thực của cá nhân và xã hội.
Nghĩa làm cho một Vật thật xứng đáng là chính mình, không lẫn với kẻ khác.
Mỗi Vật thật có một Nghĩa. Hãy cư xử với Vật thật theo đúng Nghĩa của nó.
Mỗi khái niệm ngôn ngữ học đều có hai thành phần ghép vào nhau một cách cơ học (tức là không có quan hệ máu mủ gì giữa Hình thức và Nghĩa), vì vậy, phải tuân theo quy ước có sẵn.
Quy ước trong ngôn ngữ một khi đã có thì cứ thế mãi mãi, hãy chấp nhận mà không thắc mắc, vì sao gắn với Nghĩa này thì tiếng /bát/, còn tiếng /cốc/ thì đem gắn vào Nghĩa kia.

Trẻ em ngay từ lúc mới sinh đã làm quen tự nhiên với các Tên gọi: mẹ / bé / măm / bú...
Bài 1 – Tên gọi mở đầu cho môn Tiếng Việt lớp Hai. Em dùng Tên như một Vật liệu có sẵn, mang theo từ nhà: Vật ấy – Tên ấy, Tên ấy – Vật ấy, như một thể đồng nhất. Trong tư duy của Bé, thể đồng nhất ấy được kinh nghiệm chấp nhận tự nhiên, không mảy may nghi ngờ, vì thế, nó suốt đời ở lại với kinh nghiệm.

Bài 1 – Tên làm ra sản phẩm mới (với tư cách mục đích), cũng có nhiệm vụ chuẩn bị Vật liệu để sau này lấy ra Chất liệu mới (khái niệm mới).
Trẻ mang theo từ nhà thể đồng nhất Vật – Tên. Đến trường, em đem ra phân giải (phân tích) nó, tách Tên ra khỏi Vật. Bằng việc làm ấy, Học sinh nhận ra Vật và Tên gắn với nhau một cách cơ học, nên có thể ghép rồi tách mà không làm tổn hại bên nào.
Một người có nhiều tên.
Nhiều người cùng mang một tên.
Bằng cách phân tích Tên, Học sinh lại phát hiện ra, Tên cũng có hai thành phần ghép cơ học với nhau.
– Một thành phần có thể nghe hay thấy được, gọi là Hình thức (Âm thanh / Tiếng / Chữ).
– Một thành phần giúp ta nhận ra Vật thật, gọi là Nghĩa.
Nghĩa vốn là Nghĩa của Vật thật ở ngay tại Vật thật. Căn cứ vào Nghĩa, người ta nhận ra Vật thật.
Thể đồng nhất Vật – Tên là sản phẩm của kinh nghiệm và làm nên kinh nghiệm.
Giáo dục nhà trường giúp trẻ em bước qua kinh nghiệm đến với khoa học. Em bắt đầu học thao tác cơ bản nhất là phân tích, ví dụ, phân tích Tên, tách ra hai thành phần: Tiếng / Nghĩa.

Chất liệu làm nên trí tuệ có được từ chất liệu của Vật thật, bên ngoài đầu óc cá nhân, trong số đó, có giá trị hơn cả là chất liệu của khái niệm khoa học.
Trẻ em trưởng thành là nhờ chất liệu vật chất: thức ăn, nước uống, không khí...
Trẻ phát triển là nhờ chất liệu của khái niệm, biểu tượng.
Sáu năm ở nhà, Trẻ tích luỹ được một số vốn khổng lồ những biểu tượng, khái niệm kinh nghiệm, đủ để dùng suốt đời, trong cuộc sống hằng ngày.
Khái niệm kinh nghiệm Trẻ có là có thật, nhưng không ai biết vì sao có, có từ bao giờ, có như thế nào, không thể lí giải tường minh khái niệm mình có.
Trẻ nói sõi, nói tinh tế là dấu hiệu chứng tỏ trẻ đã có một số vốn khổng lồ các Nghĩa, dưới hình thức khái niệm kinh nghiệm.
Dùng đúng Nghĩa là dấu hiệu đáng tin cậy nhất cho biết đã thực có Nghĩa (quen nói là hiểu Nghĩa).
Giáo dục nhà trường coi kinh nghiệm là nền tảng vững chắc nhất, như nền móng ngôi nhà, có thể xây lên trên đó toà nhà trí tuệ với bất cứ kích cỡ nào.
Thiết kế Môn Tiếng Việt theo chủ điểm là lời tự thú thành thật về trình độ tư duy bằng kinh nghiệm, tư duy bằng khái niệm kinh nghiệm, tóm lại, đang ở nấc thang kinh nghiệm. Muốn vượt qua kinh nghiệm thì phải có sức mạnh của khái niệm khoa học ở trình độ hiện đại.

Chất liệu trí tuệ làm bằng chất liệu của sản phẩm giáo dục. Chất liệu trí tuệ có quê gốc ở Vật liệu bên ngoài đầu óc cá nhân.
Nghiệp vụ sư phạm hiện đại chỉ làm một việc giản đơn: chuyển chất liệu trí tuệ ở bên ngoài cá nhân vào trong từng cá nhân. Nói theo Hegel, Nghiệp vụ sư phạm hiện đại chỉ giúp chất liệu trí tuệ chuyển chỗ ở. Xin lưu ý, chất liệu trí tuệ dù ở đâu, ở bên ngoài hay trong đầu, thì y cũng vẫn ở tại nhà mình. Diễn nôm: Có hai việc phải làm: Một, chọn Vật liệu chứa chất liệu trí tuệ. Hai, có công nghệ lấy chất liệu ra từ Vật liệu ở bên ngoài, rồi chuyển nó vào trong mỗi cá nhân học sinh. Công nghệ này phải đảm bảo: ai làm cũng được, làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy.
Môn Tiếng Việt lớp Hai thiết kế hai khái niệm ngôn ngữ học Từ / Câu đạt đến trình độ hiện đại mà đã trở thành hàn lâm.
Dựa vào Bản thiết kế, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo, bất cứ em học sinh bình thường nào cũng có thể tự mình thi công làm ra khái niệm, đích thực là khái niệm khoa học, ở trình độ hiện đại.
Khái niệm Từ chứa một Chất liệu mới lấy ra từ Tên, là Nghĩa.

Bài 2 – Từ dùng sản phẩm của Bài 1 – Tên làm Vật liệu để chắt lấy Chất liệu mới (mục đích mới): Nghĩa.
Từ là một khái niệm ngôn ngữ học. Đã là khái niệm khoa học thì có cấu trúc của riêng nó.
Cấu trúc Từ có hai thành phần:
- Thành phần nghe được (Tiếng) hay nhìn thấy (Chữ) gọi là Hình thức.
- Thành phần chứa trong Hình thức trên, gọi là Nghĩa.
• Hình thức có chức năng cho biết Nghĩa của Từ.
• Nghĩa có chức năng cho biết Vật thật chứa nó.
Hình thức của Từ là Tiếng (âm thanh hay chữ viết).
Học khái niệm Từ, Học sinh dùng Tiếng ghi Nghĩa.
Hình thức của Từ dù có 1 Tiếng, 2 Tiếng hay nhiều hơn thì cũng liền một khối, là một thể toàn vẹn, không thể thêm bớt, chen giữa.
Nghĩa của Từ là một thể toàn vẹn.
Mỗi Từ là một thể toàn vẹn, gồm có hai thành phần, mỗi thành phần đảm nhận một chức năng.
Học lớp Một, dùng Chữ ghi Tiếng.
Học lớp Hai, dùng Tiếng ghi Nghĩa.

Khái niệm Nghĩa được hình thành từ Vật liệu đã quen thuộc: Tên. Tên gắn với kinh nghiệm có sẵn ở nhà, là một thể đồng nhất, nguyên khối, nguyên tảng, dùng làm Vật liệu phân tích, để tách ra phần Âm thanh (Tiếng) gắn với Nghĩa (của Vật thật).
Chất liệu mới ở lớp Một là khái niệm cấu trúc ngữ âm của Tiếng.
Chất liệu mới ở lớp Hai là Nghĩa trong cấu trúc của Từ.
Ở điểm xuất phát, Nghĩa gắn với Vật thật vật chất, có thể cảm nhận bằng các giác quan.
Khái niệm Nghĩa vào trong Học sinh không phải bằng con đường “định nghĩa”, mà bằng sự cảm nhận cảm tính trực tiếp từ các vật thật cô lập.
Học sinh lớp Hai phải phân biệt rành rọt, một cách tường minh Thành phần / Chức năng trong mỗi cấu trúc: Cấu trúc Tiếng, cấu trúc Từ.
Nghe nói và nhắc lại được tiếng /bát/, tư duy phải phân biệt rành rọt: này là Tiếng bát, này là Từ bát. Cách phân biệt đáng tin cậy nhất là dùng cấu trúc.
Cấu trúc Tiếng là cấu trúc ngữ âm:

Cấu trúc Từ là cấu trúc hai thành phần: Tiếng / Nghĩa.

Bài 3 – Câu phát triển khái niệm Nghĩa bằng cách sử dụng Nghĩa của Từ.
Mỗi Vật thật thay bằng một Từ.
Từ tự “định nghĩa” bằng Nghĩa của mình.
“Ai cũng là tôi cả”. Nghĩa của Từ tôi ở trong mọi cá nhân, và bây giờ đang ở cá nhân cụ thể đang nói.
Câu tạo thành bởi các Từ liền nhau, nhưng Nghĩa của Câu không phải là tổng số học Nghĩa của các Từ.
Muốn viết hay nói một câu, cần phải biết rõ nguồn gốc, hình thái vật thể vật chất của Câu.
Từ sự vật sang Từ là một bước chuyển tự nhiên, gắn liền với kinh nghiệm sống và làm nên kinh nghiệm.
Từ sự vật sang sự việc là một sự khác biệt vật chất, cả thực thể lẫn sức mạnh vật chất. Học sinh phải nhận ra sự khác biệt cơ bản, ở bên ngoài cá nhân mình. Nhận ra sự khác biệt ở bên ngoài ấy, học sinh cần phải dùng Câu xác nhận sự khác biệt theo nhận định của cá nhân mình và thực hiện bước chuyển từ Sự việc sang Câu.
Sự việc    Câu
- gà trống    • Gà gáy
- béo    • Gà béo
- đang gáy    • Con gà trống đang gáy
• Con gà trống rất béo.
Khái niệm Câu bắt đầu hình thành là Câu hai thành phần, mỗi thành phần một Từ.
Học Câu là cơ hội sử dụng và củng cố khái niệm cấu trúc, nhằm phân biệt rành rẽ:
- Thành phần Câu.
- Chức năng của mỗi thành phần Câu.
Phân tích Câu Bé ngủ.
Học sinh phải phân biệt rành rẽ:
Một, Câu có hai thành phần là hai Từ: Bé // ngủ.
Hai, Từ bé đảm nhận chức năng chủ.
Từ ngủ đảm nhận chức năng vị.
Không nên nói gọn lỏn:
Bé là chủ từ.
Ngủ là vị từ.
Hiện nay người ta quen gọi chủ ngữ / vị ngữ. Cũng được! Vì Từ là một Ngữ chỉ có chính tố, không có phụ tố.
Hai khái niệm Từ / Câu là cốt lõi của Ngữ pháp tiếng Việt.
Công nghệ giáo dục cho môn Tiếng Việt tiểu học chia ra hai công đoạn lớn:
1. Công đoạn 1 – Hình thành khái niệm là mục đích (là sản phẩm cần làm ra): Từ / Câu.
2. Công đoạn 2 – Sử dụng các khái niệm đã học Từ / Câu, như phương tiện phục vụ cho các mục đích khác, làm ra các sản phẩm mới, ví dụ Bài.

IV. Chương trình môn Tiếng Việt lớp Ba
Lớp Một, học khái niệm Tiếng.
Lớp Hai, học khái niệm Từ / Câu.
Không có sự khác biệt nào về khái niệm giữa học sinh tiểu học và nhà ngôn ngữ học hiện đại.
Môn Tiếng Việt tiểu học là một thực thể phát triển, với 3 khái niệm cơ bản: Tiếng – Từ – Câu.
Mỗi khái niệm, trước hết, là một sản phẩm còn phải làm ra (mục đích). Sau đó, sản phẩm ấy được dùng làm Vật liệu – Điều kiện – Phương tiện, phục vụ cho Mục đích mới (làm ra sản phẩm mới, khái niệm mới).
Học Tiếng để biết Chữ, có thể ghi lại bất cứ Tiếng nào (mục đích).
Học Từ là học khái niệm mới, trong đó nhân tố mới là Nghĩa.
Học Câu là học cách dùng Từ để làm ra sản phẩm mới.
Học hai khái niệm Tiếng / Từ còn dựa vào quy ước võ đoán.
• Chữ là quy ước võ đoán gán cho Âm.
• Từ: dùng Tiếng gán cho Nghĩa, theo quy ước võ đoán.
Câu nói ra vừa theo quy ước, vừa vượt ra khỏi quy ước võ đoán, buộc phải tuân theo luật chặt chẽ, gọilà Ngữ pháp.

Ngữ pháp tiếng Việt có cốt lõi là hai khái niệm: Từ / Câu.
Cao Xuân Hạo cho rằng Câu là bậc cao nhất của Ngữ pháp. Nói cách khác, Ngữ pháp dừng lại ở Câu. Không có khái niệm “Văn bản” trong ngữ pháp (không có Ngữ pháp văn bản).
Môn Tiếng Việt tiểu học Công nghệ giáo dục được thiết kế thành hai công đoạn lớn:
Công đoạn 1 làm ra ba sản phẩm với tư cách Mục đích, là ba khái niệm Tiếng – Từ – Câu.
Công đoạn 2 sử dụng các sản phẩm đã có để làm ra sản phẩm mới, ví dụ, Bài. Bài gồm có các thành phần cấu thành là các Đoạn.
Bài / Đoạn là các sản phẩm được làm ra bằng Từ / Câu, nhằm đáp ứng các nhu cầu bên ngoài ngữ pháp.
• Mặt bàn – chân bàn là những thành phần cấu thành cái bàn. Việc này có công nghệ của nó.
• Dùng cái bàn ấy là việc khác, bên ngoài công nghệ làm ra bàn.
Môn Tiếng Việt lớp Ba Công nghệ giáo dục sẽ hoàn thiện hai khái niệm Từ / Câu, coi như có trong tay bộ khung Ngữ pháp tiếng Việt.
• Trước hết học Tiếng: dùng Chữ ghi Tiếng.
• Sau đó, học cách dùng Tiếng ghi Từ.
• Cuối cùng, học cách dùng Từ làm ra Câu, dùng câu diễn đạt sự việc.
Học xong lớp Ba coi như “về cơ bản đã học xong” Ngữ pháp tiếng Việt. Nói rõ hơn, học hết lớp Ba, Học sinh nói đúng câu, viết đúng câu, không bao giờ viết (nói) câu què, câu cụt.
Trong môn Tiếng Việt tiểu học – Công nghệ giáo dục, không có khái niệm Từ ghép / Câu ghép, theo kinh nghiệm mô tả trực quan về hình thức.
Không có khái niệm mới, ngoài hai khái niệm Từ / Câu, nhưng mở rộng hai khái niệm ấy.
1. Mở rộng khái niệm Từ với tư cách mở rộng thành phần Câu: Ngữ.
Với khái niệm Ngữ, sẽ phân biệt tục ngữ / thành ngữ.
2. Mở rộng khái niệm Câu, bằng cách đặt sự việc vào trong những tình huống khác nhau, về không gian, thời gian, nguyên nhân (xảy ra sự việc), vân vân.
3. Liên kết câu: Mối quan hệ giữa hai Câu, diễn đạt mối quan hệ giữa hai sự việc.
Môn Tiếng Việt tiểu học – Công nghệ giáo dục tập trung vào ba khái niệm cơ bản: Tiếng – Từ – Câu.
Tiếng là thuần ngữ âm.
Từ có một Nghĩa.
Câu có một Nghĩa.
Nghĩa là khái niệm cốt lõi, là Nghĩa đang thực có của Từ / Ngữ / Câu, trong những sự việc khác nhau (có thể thô / tinh / đậm / nhạt khác nhau).

Trẻ 6 tuổi đến trường đã nói sõi tiếng mẹ đẻ, có một vốn khổng lồ về Từ ngữ, kết thành nền tảng vững chắc một khối liền các khái niệm kinh nghiệm, cấp cho tư duy kinh nghiệm.
Trẻ 6 tuổi đến trường.
Trẻ em hiện đại đến trường để thực thi một bước phát triển về trí tuệ, về tư duy (theo hoạt động chủ đạo của lứa tuổi), tức là thực thi một bước nhảy chiến lược, từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy khoa học.
Tư duy khoa học là tư duy bằng các khái niệm khoa học.
Giáo dục nhà trường hiện đại vẫn trân trọng những khái niệm kinh nghiệm em mang theo từ nhà. Cách trân trọng xứng đáng nhất, mang lại lợi ích lớn nhất cho em, là giúp em vượt bỏ tư duy kinh nghiệm sang tư duy khoa học.
Khái niệm khoa học đưa đến cho em, ngay từ lớp Một, ngay từ khi em bước qua ngưỡng cửa lớp học, là khái niệm ngôn ngữ học hiện đại của nhà khoa học, ở trình độ hiện đại mà đã trở thành hàn lâm.
Hệ thống khái niệm ngôn ngữ học đưa đến cho học sinh tiểu học chỉ có ba khái niệm Tiếng – Từ - Câu, triển khai trên tất cả mọi Vật liệu, gọi là chủ điểm.

Hồ Ngọc Đại

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED