Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Tiếng Anh Công nghệ giáo dục bậc tiểu học

1.    Giới thiệu:
a.    Tầm quan trọng

Tiếng Anh là công cụ giao tiếp ngày càng phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Thông thạo tiếng Anh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong nền kinh tế hội nhập hiện nay. Có tiếng Anh, con người có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nền văn minh thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác giao lưu và phát triển tiềm năng của chính mình.

Chương trình Công nghệ giáo dục (CGD) bắt đầu nghiên cứu việc dạy ngoại ngữ cho học sinh Tiểu học từ năm 1978. Hằng năm, bộ sách được thực nghiệm, điều chỉnh, bổ sung ngày càng phù hợp với học sinh và điều kiện học tập của Việt Nam. Năm 2002, bộ sách Tiếng Anh CGD được 43 tỉnh thành với hàng nghìn giáo viên và hàng trăm nghìn học sinh lựa chọn.

b.    Thời lượng:
Môn Tiếng Anh CGD bậc Tiểu học được xác định là môn NGOẠI NGỮ, do vậy phương pháp học tiếng Anh khác với việc học tiếng mẹ đẻ hay học ngôn ngữ thứ hai. Học như một ngoại ngữ, học sinh không có môi trường giao tiếp nghe – nói một cách tự nhiên, chính vì vậy, chương trình thiết kế mỗi ngày trẻ được học 1 tiết, vừa đủ để tạo môi trường học tập, và cũng chính vì vậy, 4 kĩ năng nghe – nói – đọc – viết được dạy ngay từ khi bắt đầu học để các kĩ năng hỗ trợ lẫn nhau, tương tác lẫn nhau giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn.  
2. Nguyên tắc xây dựng chương trình: Chương trình được xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản:
* Nguyên tắc phát triển: Chương trình lấy vật liệu là các Mẫu lời nói giao tiếp với cốt lõi là các cấu trúc ngôn ngữ được sắp xếp theo trật tự từ đơn giản đến phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành dần khái niệm từ vựng, khái niệm câu và đa dạng hóa số lượng từ sử dụng.
* Nguyên tắc chuẩn mực: Chương trình sử dụng tiếng Anh hiện đại, phù hợp với ngôn ngữ giao tiếp của trẻ em hiện đại trong các tình huống giao tiếp  gần gũi với đời sống thực của trẻ em. Từ vựng được chọn theo tiêu chí tần số, hay sử dụng và đơn giản.
* Nguyên tắc tối ưu: Chương trình phải hạn chế trong một điều kiện thời gian nhất định (mỗi ngày học 1 tiết, mỗi tiết 40 phút), với khách thể là học sinh tiểu học mang những đặc điểm tâm lý và năng lực vốn có ở độ tuổi nhất định (lớp 2, 3, 4, 5). Nguyên tắc tối ưu chính là việc chọn cái tối thiểu cần và đủ cho việc hình thành và luyện tập thành kĩ năng giao tiếp và định hình khái niệm ngôn ngữ cần học.
3.    Mục tiêu - Sản phẩm:
a.    Mục tiêu chung:
Mục tiêu học tiếng Anh ở bậc Tiểu học trước hết là học khái niệm từ, khái niệm câu cùng với các kỹ năng giao tiếp nghe, nói, đọc, viết tương ứng bằng tiếng Anh.
Về tổng thể, sau khi học xong tiếng Anh bậc Tiểu học, yêu cầu tối thiểu học sinh phải đạt được trình độ tiếng Anh tương đương Cấp độ A1 của Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ.
b.    Mục tiêu từng lớp:
Lớp 2, lớp 3: Hình thành khái niệm từ trong giao tiếp nghe – nói – đọc – viết.
Lớp 4, lớp 5: Hình thành khái niệm câu trong giao tiếp nghe – nói – đọc - viết.
Khái niệm từ và khái niệm câu luôn được học trong mẫu lời nói giao tiếp. Không học các từ đơn lẻ. Từ được học trong câu. Câu củng cố vững chắc khái niệm từ. Không học các câu đơn lẻ tách rời khỏi tình huống giao tiếp. Tuy nhiên, tại từng thời điểm, vai trò của từ và câu có khác nhau. Ở lớp 2, 3, khái niệm từ là chất liệu. Lớp 4, 5, khái niệm từ trở thành vật liệu để hình thành khái niệm câu. Khái niệm câu lúc này lại với tư cách là chất liệu. Sự chuyển hóa chất liệu – vật liệu hay mục đích – phương tiện luôn được quan tâm trong toàn bộ chương trình, trong từng bài học, từng tiết học.
Mẫu lời nói là đơn vị giao tiếp được chọn để học.
Mẫu lời nói là sản phẩm sẽ phải làm ra của học sinh. Mỗi mẫu giới thiệu một chất liệu mới (một khái niệm ngôn ngữ mới).
Mẫu lời nói trước hết là đối tượng của nhận thức (mục đích), sau đó là công cụ để giao tiếp (phương tiện). Khi đang nắm mẫu thì mẫu là mục đích, khi dùng mẫu đó để giao tiếp hoặc để nắm một mẫu khác, thì mẫu đó là phương tiện.
Về mặt vật liệu, mẫu càng ngày càng được củng cố, đa dạng hoá về lượng từ vựng, về từ loại, về thể loại câu, về phạm trù ngữ pháp của từ (thời, thể, thức)...
Mẫu lời nói đã được hình thành sẽ trở thành phương tiện ngôn ngữ để học các mẫu lời nói tiếp theo. Mỗi mẫu sau khi đã hình thành có thể được coi là một thao tác, được định hình như một công cụ. Tên riêng của công cụ đó chính là tên gọi các chức năng giao tiếp của mẫu: mẫu giới thiệu, mẫu làm quen, mẫu miêu tả hình dáng...
Mẫu lời nói thoả mãn mục đích học tiếng Anh như một đối tượng khoa học, có cấu trúc, có hệ thống và là đơn vị nhỏ nhất có khả năng giao tiếp. Mẫu càng cụ thể, tư duy ngôn ngữ của trẻ càng cao.
Hệ thống mẫu lời nói là nội dung tối thiểu, không thể không có, cho 100% học sinh. Các bài tập đa dạng, phong phú ở nhiều mức độ khó khác nhau nhằm thực hiện kĩ thuật cá thể hoá cho từng học sinh, đáp ứng nhu cầu của học sinh khá, giỏi.
4.    Phương pháp
Phương pháp học tiếng Anh Công nghệ giáo dục ở bậc Tiểu học được thực hiện qua hai giai đoạn chính:
1.    Nắm mẫu lời nói.
2.    Luyện tập sử dụng mẫu.
Nắm mẫu tức là hiểu và dùng được mẫu để giao tiếp trong một tình huống cụ thể dưới dạng thu nhận thông tin (nghe, đọc) và phát thông tin (nói, viết).
Nắm mẫu là giai đoạn hình thành khái niệm. Nắm mẫu là hạn dưới tối thiểu cho mọi học sinh, là việc làm bắt buộc với 100% học sinh trên lớp.
Nắm mẫu thật chắc mới chuyển sang luyện tập. Thấy học sinh gặp khó khăn khi luyện thì phải quay lại nắm mẫu.
Luyện tập sử dụng mẫu là giai đoạn củng cố khái niệm, tiến tới thành thạo. Có hai mức độ:
-    Thành thạo ở mức độ ngôn ngữ;
-    Thành thạo ở mức độ giao tiếp.
Giai đoạn này đi sâu vào từng kỹ năng cụ thể trong nhiều tình huống khác nhau.
* Nắm mẫu: Trên cơ sở các khái niệm công cụ đã trình bày, quy trình nắm mẫu được triển khai bằng chuỗi tuyến tính các thao tác của bản thân học sinh:

 


* Luyện tập sử dụng mẫu:
a.    Luyện kỹ năng nghe
b.    Luyện kỹ năng nói
c.    Luyện kỹ năng đọc
d.    Luyện kỹ năng viết
Các bài tập luyện được thiết kế đa dạng, từ dễ đến khó. Ví dụ, rèn luyện kỹ năng nghe, ta có nghe- nhắc lại, nghe - ghép các từ có cùng âm cuối, nghe - ghép từ với tranh, nghe - điền từ, nghe - kể lại, nghe - viết lại....
Kĩ năng đọc: Đọc từng chữ cái. Phát âm đúng từng từ, từng câu. Đọc đúng ngữ điệu. Đọc – nối tranh tương ứng. Đọc – tô màu tranh. Đọc – vẽ tranh minh hoạ. Đọc – diễn đạt sang tiếng Việt. Đọc – trả lời câu hỏi. Đọc – so sánh những khái niệm ngôn ngữ cần thiết chứa đựng trong chuỗi lời nói. Đọc – khẳng định đúng, sai…
Kĩ năng viết: viết đúng từng chữ cái (chữ hoa, chữ thường), viết đúng từng từ, tập hợp từ, từng câu, đoạn, bài. Các dạng bài tập viết có thể là: Viết theo mẫu, điền chữ thiếu trong từ, điền từ thiếu trong câu, điền dạng từ đúng, viết chính tả, thay thế từ trong câu bằng những từ khác, viết câu hoàn chỉnh từ những từ đã cho, hoàn thành tiếp câu, trả lời câu hỏi, viết câu hỏi để có được câu trả lời cho sẵn, chuyển đổi mục đích phát ngôn của câu, nhìn tranh miêu tả, viết các đoạn văn (đối thoại hoặc độc thoại) theo các tình huống hoặc chủ điểm đã học.
Các dạng bài tập nói có thể là: Nói thuộc lòng các mẫu lời nói đã học, nói thuộc lòng các bài đọc, bài đọc vần, bài hát có trong sách, trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi, nói miêu tả tranh, nói trong các tình huống giao tiếp nhất định (độc thoại hoặc đối thoại).
Các hình thức tổ chức luyện tập có thể là các câu đố, cuộc thi, trò chơi, đóng vai, điều tra, trao đổi thảo luận, làm cá nhân, làm theo nhóm…
Các hoạt động giao tiếp cần được tiến hành thông qua các chủ điểm và chủ đề, tình huống giao tiếp hấp dẫn cả về nội dung và hình thức. Học sinh cần được tham gia hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và có ý thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
5.    Nội dung
a.    Kiến thức:

Hình thành khái niệm từ:
- Chiếm lĩnh ngữ âm cơ bản của từ: Ngay từ đầu yêu cầu phải phát âm chuẩn từng từ. Chương trình nêu bật những nét đặc trưng cơ bản của phát âm từ tiếng Anh, tìm ra sự khác biệt với phát âm tiếng Việt, lường trước những khó khăn của học sinh, đặc biệt là khó khăn khi phát âm âm cuối của từ để tập trung hình thành và luyện tập.
- Chiếm lĩnh ngữ nghĩa cơ bản của từ: Nghĩa từ vựng và nghĩa từ pháp đồng thời được hình thành. Đầu giai đoạn học chỉ giới thiệu nghĩa đen, nghĩa cụ thể và mỗi thời điểm, mỗi từ chỉ giới thiệu một nghĩa. Nghĩa từ pháp được khái quát dần trong quá trình học: danh từ, tính từ, mạo từ, đại từ, số từ, động từ...
- Chiếm lĩnh khái niệm cấu tạo từ: Qua đối chiếu, học sinh bước đầu biết phân tích từ thành các hình vị (căn tố, phụ tố) và hiểu được phương thức cấu tạo từ (phụ gia hoặc ghép).
-  Chiếm lĩnh khái niệm hình thái học: Nắm được quy tắc và biết cách cấu tạo hình thái của từ (trong phạm vi các từ và ngữ pháp cần sử dụng).
- Chiếm lĩnh khái niệm chức năng của từ: Mỗi từ loại có chức năng khác nhau. Ví dụ:
•    Danh từ: chỉ người, vật, sự việc hay khái niệm.
•    Đại từ: dùng để thay cho danh từ .
•    Tính từ, mạo từ: bổ nghĩa cho danh từ.
•    Động từ: chỉ hành động hoặc trạng thái.
Hình thành khái niệm câu:
- Chức năng giao tiếp: hiểu được ý đồ thông báo của người nói.
- Mục đích phát ngôn: hiểu được loại câu, quan hệ của người nói với nội dung câu (câu tường thuật, câu hỏi, câu phủ định, câu mệnh lệnh...).
- Cấu trúc của câu: biết phân giải cấu trúc câu thành các thành phần chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, tân ngữ...
b.    Kỹ năng:
Hình thành và luyện tập đồng thời cả 4 kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết thông qua hệ thống bài tập ngôn ngữ và bài tập giao tiếp. Kĩ năng nghe – nói luôn đi trước một bước trong quy trình học. Các bài tập đa dạng, phong phú ở nhiều mức độ khó khác nhau nhằm thực hiện kỹ thuật cá thể hoá từng học sinh. Phạm vi tình huống và chủ điểm giao tiếp quen thuộc hàng ngày nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp cụ thể như cách chào hỏi, tự giới thiệu và giới thiệu người khác, kể về gia đình, về học tập, miêu tả dáng vóc, màu sắc, sở hữu, yêu cầu ai làm gì, cách xin phép vào lớp, cách trả lời khi không thực hiện được yêu cầu của ai đó, cách nói về khả năng, cách miêu tả lớp học, ngày sinh nhật, cảnh gia đình, cách nhờ ai giúp đỡ, cách nói về sở thích, cách hỏi đường, cách hỏi mua, cách miêu tả công việc thường làm và các hoạt động vui chơi, cách miêu tả một ngày đã qua, cách nói về dự định sẽ làm,...
Nghe: nghe hiểu các từ/cụm từ, các câu ngắn, đơn giản; nội dung chính các đoạn hội thoại, đoạn văn ngắn, đơn giản trong phạm vi chủ đề và tình huống giao tiếp đã học.
Nói: hỏi và trả lời các câu ngắn, đơn giản về các chủ đề và tình huống giao tiếp đã học; sử dụng các từ, câu cơ bản đã học để nói về bản thân, gia đình, bạn bè và các hoạt động học tập, vui chơi.
Đọc: đọc hiểu nội dung chính các bài đọc liên quan đến các chủ đề và tình huống giao tiếp đã học; đọc và nhận biết một số thông tin cụ thể của nội dung bài đọc.
Viết: viết các câu, đoạn văn ngắn liên quan đến chủ đề và tình huống giao tiếp trong phạm vi ngôn ngữ đã học; điền các phiếu đơn giản về thông tin cá nhân, bưu thiếp, thời khoá biểu, …
6.    Đánh giá
Đánh giá được thực hiện ở cả quá trình học cũng như ở cuối từng giai đoạn học tập.
Hình thức kiểm tra bao gồm kiểm tra nói, kiểm tra viết, kiểm tra sau từng bài, sau từng học kỳ, từng năm.
Kiểm tra phải  đánh giá được cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Việc đánh giá còn dựa trên cơ sở quan sát và nhận xét của của giáo viên trong suốt cả năm học.
Kiểm tra, đánh giá được thiết kế cụ thể trong sách cho giáo viên.

TS. Ngô Thị Tuyên

























1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED