Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Giáo dục lối sống - Một biện pháp hiệu quả trong việc hỗ trợ và nâng cao sức khỏe tâm thần trong trường học

Tóm tắt: Hiểu đúng về sức khỏe tâm thần (SKTT) trong trường học là một yêu cầu cần thiết đối với tất cả các nhà nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng tâm lý học và giáo dục học. Việc đưa môn học Giáo dục lối sống - Công nghệ giáo dục (GDLS - CGD) vào thí điểm tại một số trường tiểu học từ năm học 2013 - 2014 như là một phương án có tính khả thi. Quy tắc trong thiết kế GDLS là: Giáo dục bằng việc làm cụ thể của học sinh. Môn học này sẽ giúp học sinh biết cách cư xử trong các tình huống cụ thể mà các em gặp phải trong cuộc sống như: khi ngồi học lâu bị mỏi em cần làm gì, khi bị bố mẹ từ chối yêu cầu em nên làm thế nào, nguyên tắc ứng xử với bạn… Học sinh sẽ được trải nghiệm thực tế với nhiều hình thức tổ chức khác nhau và SKTT của mỗi cá nhân sẽ được nâng cao hơn qua từng bài học.

Từ khóa: giải pháp, sức khỏe tâm thần, trường học, giáo dục lối sống, công nghệ giáo dục.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

“Không có sức khỏe nếu không có SKTT”. Đó chính là khẩu hiệu trong Ngày SKTT Thế giới (10/10) năm 2011. Chúng ta có thể thấy, xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao về mặt vật chất nhưng lại kéo theo những báo động tiêu cực về sức khỏe tinh thần.

Người khỏe mạnh về tâm thần từng được hiểu là người không bị chẩn đoán với bất cứ một loại bệnh tâm thần nào như bị tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh... Ngày nay, SKTT được nhìn nhận một cách tích cực hơn: Một người có sức khỏe phải là người không chỉ khỏe về thể trạng bên ngoài mà còn phải luôn có một tâm hồn vui vẻ, yêu đời... Theo nghiên cứu của Viện tâm lý học (Viện khoa học xã hội Việt Nam), SKTT có thể được mô tả bởi 5 khía cạnh cơ bản sau: khả năng tận hưởng cuộc sống, khả năng phục hồi, khả năng cân bằng, khả năng phát triển cá nhân, khả năng linh hoạt, thích nghi trong mọi tình huống. SKTT là trạng thái không những không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái. Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền, nguyên Giám đốc bệnh viện tâm thần Tp. Hồ Chí Minh thì "SKTT là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng của mình". Việc chăm sóc SKTT sẽ giúp chúng ta nâng cao chất lượng cuộc sống, vượt qua những khó khăn, áp lực thường ngày.

SKTT của mỗi cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào lối sống của họ. Lối sống chính là cách sống. Nó là thể thống nhất của hoàn cảnh sống, phương thức sản xuất và tương ứng với nó là quan niệm sống (Hồ Ngọc Đại) [4]. Có thể thấy, lối sống gắn liền với hoạt động hằng ngày của con người, là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay cả một nền văn hóa. Nhưng không phải tất cả các khía cạnh của một lối sống được hình thành một cách tự nhiên mà cần được giáo dục. Chăm sóc SKTT cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học là một vấn đề rất quan trọng và cần được quan tâm. Bước vào lớp Một, trẻ phải chuyển hoạt động chủ đạo từ “chơi” sang “học” là một thay đổi lớn, dễ xuất hiện những băn khoăn, áp lực không nhỏ gây ảnh hưởng đến SKTT. Việc đưa môn học GDLS vào nhà trường, ngay từ bậc tiểu học sẽ là một trong những “vũ khí” hữu hiệu trong việc nâng cao, phòng chống các vấn đề về SKTT trong trường học.

2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH HIỆN NAY

2.1. Hiện tượng/ kết quả

Có một thực tế cho thấy, tình trạng học sinh nghiện game, nghiện các trò chơi bạo lực, học sinh đánh nhau… ngày càng trở nên đáng báo động. Những năm gần đây, rất nhiều bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, học sinh tự sát trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể... Hiện nay, trên thế giới, chương trình sức khỏe tâm thần cho trẻ em là một trong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khỏe (tai nạn, nhiễm khuẩn, sức khỏe tâm thần). PGS.TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội cho biết: “Trong guồng sống chóng mặt hiện nay, con người phải đối mặt với quá nhiều áp lực từ cuộc sống, nên ngày càng có nhiều người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày Viện khám, chữa bệnh và tư vấn cho khoảng 200 bệnh nhân, trong đó độ tuổi thanh niên chiếm không nhỏ”.

Nhóm nghiên cứu tâm lý sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ ra rằng: “Lứa tuổi học sinh phổ thông hiện nay đang gặp khó khăn về sức khoẻ tâm thần”. Khảo sát SKTT của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở Việt Nam trong độ tuổi 10-16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT chung là 19,46%. Kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với Đại học Melbourne (Australia) trong khuôn khổ dự án “Chăm sóc SKTT học sinh” cho thấy, trong nhà trường luôn có một tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT. “Theo đó, 15,94% em có rối nhiễu tâm trí trong tổng số học sinh các cấp học. Lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng trong thanh thiếu niên. Trong số các ca tự sát, 10% ở độ tuổi 10-17. Hậu quả là tạo ra một lớp trẻ “gà công nghiệp” yếu ớt: gần 85% số học sinh luôn căng thẳng tâm thần do áp lực của việc học tập, 61% trẻ luôn căng thẳng do áp lực của các kỳ thi, kiểm tra và 63% học sinh gặp khó khăn trong học tập do khối lượng kiến thức quá lớn” [2]. Nghiên cứu “SKTT của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả PGS.TS Đặng Hoàng Minh - Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (chủ biên), PGS.TS Bahr Weiss - Trường ĐH Vanderbilt và ThS. Nguyễn Cao Minh - Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học, mới đây cho thấy  có từ 12-13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6-16), tức là có khoảng 2.7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc gặp phải những vấn đề SKTT một các rõ rệt. Trong đó tỉ lệ trẻ gặp phải những vấn đề SKTT khá đa dạng ở các tỉnh và cao nhất ở Đà Nẵng, Thái Nguyên và Phú Xuyên, thấp nhất ở 2 tỉnh Hậu Giang và Hà Tĩnh. Nghiên cứu được thực hiện ở 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh đại diện của Việt Nam, bao gồm 1314 cha mẹ của trẻ từ 6-16 tuổi và 591 vị thành niên từ 12-16 tuổi [8].

Như vậy, có thể thấy rằng, hiện tượng các bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Vấn đề hỗ trợ, nâng cao sức khỏe tâm thần cho con người nói chung, cho học sinh nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết.

2.2. Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân tác động, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh hiện nay. Tuy nhiên, có thể kể đến các nguyên nhân cơ bản sau:

Nguyên nhân đầu tiên phải nói đến đó chính là nguyên nhân xuất phát từ gia đình. Thực tế cho thấy, ở các thành phố lớn hay những vũng có điều kiện, bố mẹ thường mải mê đi làm, kiếm tiền và bỏ mặc con cái làm bạn cả ngày với các sản phẩm công nghệ mới như Ipad, Iphone…Có những đứa trẻ mới 5 tuổi, 6 tuổi nhưng đã biết sử dụng thành thạo các công nghệ mới và chỉ sử dụng để chơi game. Chắc hẳn chúng ta đều đã từng chứng kiến một số em học sinh lớp Một mắc phải chứng “nghiện game” rồi dẫn đến căn bệnh trầm cảm, tự kỉ ám thị… Khi đến lớp, có học sinh không hề nghe giảng và tay chân thì làm những hành động không khác gì như trong phim kiếm hiệp, phim siêu nhân hay ở trong những game đang thịnh hành. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi đã biết nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là: bố mẹ của học sinh này thường xuyên đi vắng và cho con dùng điện thoại, dùng Ipad để chơi game, xem hoạt hình một cách thoải mái. Người giúp việc ở nhà cũng chỉ biết cho “cậu chủ” ăn và ngủ mỗi khi cậu chơi game xong và thấy đói. Thậm chí, có nhiều hôm cậu chủ còn không chịu ăn vì quá ham mê với những trò chơi bạo lực trong Ipad, Iphone của bố mẹ. Không những không quan tâm đến con, nhiều cha mẹ còn thường xuyên cãi nhau trước mặt con khiến trẻ có những suy nghĩ, lo lắng tiêu cực. Theo một kết quả điều tra tại ba trường THCS ở Long Xuyên cho thấy: Trong số những em được xác định gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần có 51,92% học sinh cho rằng “Gia đình thường xung đột khiến em rất sợ hãi”. Đối với vấn đề “Ba mẹ không sống chung với nhau” có 34,61% cho rằng ba mẹ không sống chung làm ảnh hưởng đến sức khỏe tâm  thần của các em [7]. Có thể nói, gia đình ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách của trẻ. Nếu em được sống trong một gia đình hạnh phúc, nếu em được bố mẹ và những người thân luôn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, được đến trường học tập, chia sẻ, giao lưu với các bạn…thì em sẽ có một bước đệm vững chãi, có một SKTT tốt. Và ngược lại, một đứa trẻ không được giáo dục tốt, rơi vào hoàn cảnh cha mẹ ly hôn, sống trong một môi trường chỉ có tiếng cãi vã, sự gian dối…thì tính cách, SKTT của chúng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Nguyên nhân tiếp theo đó chính là áp lực tại trường học. Áp lực này liên quan đến việc học tập, thi cử, liên quan đến cả thầy cô và bạn bè. Rất nhiều học sinh cảm thấy căng thẳng, lo lắng trong học tập, thi cử bởi cả thầy cô và bố mẹ luôn thúc giục, kì vọng vào em quá nhiều. Nhiều học sinh phải đối mặt với một lượng bài tập lớn cả ở trường và ở lớp học thêm. Em không có thời gian chơi mà chỉ biết học làm sao cho thật giỏi để làm hài lòng bố mẹ, thầy cô. Vì thế, nhiều học sinh luôn căng thẳng, lo lắng mỗi khi kì thi đến. Ngoài ra, yếu tố quan tâm của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các em. Nếu thầy cô là người tâm lý, luôn quan tâm, động viên học sinh thì các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn trong việc học. Ngược lại, thầy cô chỉ trích học sinh khi em mắc lỗi hoặc chỉ quan tâm đến những bạn học giỏi trong lớp sẽ dẫn đến những phản ứng tiêu cực từ phía học sinh. Bên cạnh đó, yếu tố bạn bè cũng tác động không nhỏ đến sức khỏe tâm thần của các em. Học sinh cần có bạn thân để chia sẻ, cùng học tập và vui chơi. Nếu em không hòa đồng, không chơi với bạn nào thì rất dễ dẫn đến việc học sinh bị cô lập, bị bắt nạt. Nhiều học sinh thường xuyên bị bắt nạt tại trường học nhưng lại không dám nói với ai vì sợ bạn cũng là một nguyên nhân gây ra tâm lý lo lắng, căng thẳng mỗi khi đến trường.

Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy tâm lý học sinh hiện nay phát triển rất phức tạp trong khi học sinh Việt Nam chưa được trang bị những kiến thức, kĩ năng để đương đầu với những vấn đề gặp phải hàng ngày, trong một môi trường sống ngày càng có nhiều xáo trộn, biến đổi do sự thay đổi, vận động của tự nhiên và cả xã hội. Chính những yếu tố tác động bên ngoài, cũng như nhận thức của chính thanh thiếu niên hạn chế dẫn đến những xung đột nội tại, gây ức chế, dồn nén và nếu không được giải tỏa kịp thời sẽ dẫn đến các biểu hiện lâm sàng, ảnh hưởng trực tiếp đến các em và những người xung quanh. Các vấn đề liên quan đến phát triển trí tuệ, rối loạn nhân cách như rối loạn cảm xúc, rối loạn tăng động, rối loạn ứng xử, xung đột bạo lực, nghiện rượu và ma túy, rối loạn ăn uống dẫn tới béo phì, đều là các rối loạn báo hiệu SKTT gặp trục trặc. Những rối loạn tâm thần từ thể nhẹ dẫn đến giảm sút đáng kể sự phát triển và khả năng học của học sinh. Những cũng chính từ những điểm khởi phát, những dấu hiệu ban đầu không được can thiệp kịp thời hay có sự nhận thức đúng từ bản thân đối tượng sẽ tiến triển thành các thể nặng, phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển về mặt xã hội và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tâm thần về lâu dài.

3. GIÁO DỤC LỐI SỐNG – CGD VỚI VIỆC HỖ TRỢ, NÂNG CAO SỨC KHỎE TÂM THẦN CHO HỌC SINH

Tôi xin đi sâu vào một giải pháp nhằm hỗ trợ, nâng cao SKTT của học sinh tiểu học đó chính là đưa môn GDLS – CGD vào trường học. (Quy ước riêng trong sách của Công nghệ giáo dục (CGD): T: thầy, giáo viên. H: học sinh). Môn GDLS ra đời không nằm ngoài những mục tiêu đã đề ra. Đó là mục đích trang bị “những vụ khí hữu hiệu” giúp các em có một lối sống lành mạnh, không để những nguy cơ từ bên ngoài tác động, cũng như nâng cao nhận thức của chính các em. Không những thế, việc phối kết hợp chặt chẽ, can thiệp sớm của bố mẹ, thầy cô, những người xung quanh các em cũng góp phần không nhỏ trong việc giải quyết những rắc rối, giúp ngăn ngừa có hiệu quả những hậu quả có hại cho SKTT. Một trong những việc làm thiết thực nhất đã được triển khai chính là thí điểm đưa môn học GDLS vào nhà trường trong năm học 2013 - 2014, bắt đầu từ lớp 1 - bậc tiểu học.

3.1. Về việc triển khai GDLS 1 – CGD

Năm học 2014-2015, môn Giáo dục lối sống đã được triển khai thí điểm tại 13 trường tiểu học thuộc 6 tỉnh là Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, Tây Ninh.

1. Trường Tiểu học Công nghệ Giáo dục Hà Nội – Hà Nội

2. Trường Tiểu học Thực nghiệm Liễu Giai – Hà Nội

3. Trường Tiểu học Đinh Văn Tả - Hải Dương.

4. Trường Tiểu học Nguyễn Trãi – Hải Phòng

5. Trường Tiểu học Chu Văn An – Hải Phòng.

6. Trường Tiểu học Võ Thị Sáu – Hải Phòng.

7. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong – Hải Phòng.

8. Trường Tiểu học Thực hành – Hải Phòng9. Trường Tiểu học Lí Học – Hải Phòng.

10. Trường Tiểu học Vĩnh Trại – Lạng Sơn

11. Trường Tiểu học Cao Lộc – Lạng Sơn.

12. Trường Tiểu học Nguyễn Du – Lào Cai.

13. Trường Tiểu học Thực nghiệm Tây Ninh – Tây Ninh

XX

Lứa tuổi tiểu học là độ tuổi dễ bị tổn thương từ môi trường xung quanh nhất. “Những gì anh có bây giờ thì anh đã có từ lúc 5 tuổi” (L.Tonxtoi). Có thể nói, lứa tuổi tiểu học là một thời điểm vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người. Đây là giai đoạn quyết định trong việc hình thành nhân cách của trẻ. Môn GDLS không chỉ giúp học sinh quan tâm đến chăm sóc sức khoẻ, thế ứng xử toàn diện mà còn là khơi dậy tiềm năng sức khoẻ của tinh thần, trí tuệ và mỗi học sinh hình thành năng lực tự giải quyết khó khăn của mình có cơ sở, theo các nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội (không phải học về mưu mẹo, khôn vặt trong giải quyết sự việc). Môn GDLS nhằm hình thành cho học sinh cách cư xử trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội mà hàng ngày học sinh tiếp xúc. Đó chính là lối sống có trách nhiệm với bản thân, những người xung quanh và biết chia sẻ. GDLS cũng là giáo dục đạo đức, với nhân lõi là niềm tin đạo đức, được thể hiện ra ngoài bằng những hành vi đúng mực. Niềm tin có sức chi phối nhu cầu, kìm hãm nhu cầu này, khuyến khích nhu cầu kia, đến khi nhu cầu lớn lên thành động cơ hành động. Niềm tin – Nhu cầu – Động cơ làm nên ý chí, có sức mạnh chi phối lối sống, biểu hiện ở cách cư xử, quen gọi là hành vi đạo đức. Chính lối sống có đạo đức, được biểu hiện bằng các hành vi cụ thể sẽ dần hình thành cho mỗi học sinh lòng yêu nước qua từng cung bậc như tình yêu gia đình, nhà trường, hàng xóm, quê hương . . . Không những thế, GDLS có mục đích giúp cho học sinh tin vào chính mình. Niềm tin “lớn lên” một cách vật chất, bằng năng lượng vật chất như qua dòng sữa mẹ, qua lời ru, qua thái độ yêu thương, qua các cử chỉ âu yếm .... Để đạt mục tiêu đó, học sinh tiểu học sẽ cần biết cách cư xử trong các tình huống cụ thể trong các mối quan hệ giữa:

  • Bản thân mình với những người thân trong gia đình như ông bà, cha mẹ, anh chị em (Em và gia đình).
  • Bản thân mình với thầy cô, bạn bè, các cô bác nhân viên nhà trường, đồ dùng học tập (Em và trường học).
  • Bản thân mình với những người xung quanh, dần hình thành thế ứng xử phù hợp như tiết kiệm và bảo vệ môi trường (Em và xã hội).
  • Biết cách ứng xử, tự phục vụ bản thân (Em và chính mình).

Bộ sách GDLS - CGD gồm có 3 cuốn cho mỗi lớp: Sách thiết kế cho giáo viên, sách bài tập cho học sinh và sách cho cha mẹ học sinh. Mỗi cuốn sách đều có mục đích riêng và luôn gắn bó mật thiết, tương tác, hỗ trợ cho nhau trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh.

Tính ưu việt của môn học này chính là sự tương tác hiệu quả của ba thành phần chính, tác động quan trọng đến quá trình giáo dục, đó là: Học sinh - Giáo viên - Cha mẹ học sinh và những nhân vật thứ 3 khác (các cá nhân, các tổ chức xã hội, chính trị…). Mối quan hệ này được xác lập trên việc hỗ trợ, cùng nhau giải quyết các tình huống xảy ra trong cuộc sống thực, mà mỗi học sinh phải đối diện hàng ngày (không còn là cách thầy rao giảng và trò ghi nhớ). Chính việc hiểu bản chất của sự việc nên học sinh không còn e ngại, dồn nén hay bất lực trước một số tình huống của cuộc sống. Việc hiểu và học bằng việc làm giúp trẻ biết cách giải tỏa những uẩn ức, mà đôi khi học sinh không hiểu tại sao lại đến với mình như: “những lúc không muốn đi học thì phải làm thế nào, khi bị mỏi do ngồi lâu em phải làm gì, làm thế nào khi bị lạc, có được phản ứng bằng cách khóc hay giận dỗi khi không được mua đồ chơi không, các nguyên tắc ứng xử với bạn”. . . [4].

Trong việc giải quyết các vấn đề của bản thân trẻ, GDLS 1 – CGD cung cấp cho trẻ hiểu biết về môi trường mới của mình thông qua các nội dung: Em là học sinh lớp Một, Em và thầy cô giáo, nhà trường, Em và sách vở, đồ dùng học tập, Em và các bạn trong lớp, Em cùng bạn đi tham quan, Em và các cô, bác trong trường, Em và môi trường lớp học (xem chủ đề 1, 2, 3, 4, 7, 8, 9 trong tài liệu tham khảo số 4). Từ đó, trẻ được chuẩn bị tâm lí, dễ dàng hòa nhập hợp với môi trường mới (trường học) thông qua việc hiểu về cuộc sống ở trường, về việc học và giao tiếp với bạn bè, thầy cô.

Bên cạnh đó, GDLS 1 – CGD còn hướng dẫn trẻ biết cách tự phục vụ, tự chăm sóc bản thân mình ở nhà và ở trường, đồng thời biết cách tự xử lý một số tình huống, không phải lúc nào cũng trông chờ vào bố mẹ, anh chị hay người lớn. Các nội dung này được đề cập qua các chủ đề: Những việc em tự làm được, Em xử lí khi gặp chuyện khó, Cư xử lịch sự với bản thân (xem chủ đề 10, 11, 15 trong tài liệu tham khảo số 4). Khi tự mình làm được những việc phục vụ và chăm sóc cho bản thân mình, trẻ sẽ trưởng thành hơn, hạn chế sự lệ thuộc của trẻ vào gia đình – một trong những nguyên nhân gây ra tâm lý lo âu, căng thẳng của học sinh lớp 1.

Ngoài ra, sách thiết kế GDLS còn đề cập đến nhiều bài học khác có tác động mạnh mẽ đến việc giảm stress khi học sinh bị căng thẳng trong việc học. Em có thể đứng lên, đi uống nước, nhìn cây xanh trong sân trường, tập một vài động tác thể dục. Giáo viên sẽ trực tiếp hướng dẫn các em tập hát và làm các động tác thể dục vui vẻ, giúp các em lấy lại cân bằng và tiếp thu bài học hiệu quả hơn sau đó: Ví dụ một số trò chơi sau:

1.Thể dục thư giãn

T: Cúi mãi mỏi lưng. H:  Làm động tác cúi sâu

T: Viết mãi mỏi tay H: hai tay đưa ra đưa vào

T: Thể dục thế này H: làm một vài động tác thể dục (dang tay, vặn người…)

T: Là  hết mệt mỏi  H : Làm động tác điều hòa

Khi chơi, tất cả tập thể cùng vừa làm động tác vừa nói theo.

2. Làm theo lời hát

Nào bạn ơi bạn muốn tỏ ra thì vỗ tay đi (làm động tác vỗ tay).

Nào bạn ơi bạn muốn tỏ ra thì giậm chân đi (làm động tác giậm chân).

Nào bạn ơi bạn muốn tỏ ra rằng mình nôn nao cho nơi đây biết rằng bạn vui bạn muốn tỏ ra thì làm cả 2 (làm cả 2 động tác vỗ tay, giậm chân).

Tiếp tục trò chơi với các hành động: lắc eo, cầm chân, cầm răng…

3. Mưa phùn, mưa rào

T cho cả lớp đứng lên và quay về một bên, bá vai lên nhau như đứng xếp hàng.

T: Mưa phùn mưa phùn.

H: Xoa bóp nhẹ vai của người phía trước. Tất cả đồng thanh nói: “Thoải mái, thoải mái”.

T: Mưa rào, mưa rào.

H: Đấm nhẹ vào lưng của bạn đứng trước. Bạn được đấm lưng sẽ đồng thanh nói “Sảng khoái, sảng khoái”.

T: Mưa đá mưa đá.

H: Vỗ khắp lưng của bạn phía trước. Tất cả cùng nói: Sung sướng, sung sướng.

Tiếp tục trò chơi và đổi vai cho nhau.

4: Làm theo Alibaba (hát)

T: Xưa kia kinh đô Batda có một chàng trai đáng yêu gọi tên.

H: Alibaba.

T: Hôm nay Alibaba đến đây chúng ta cùng nhau vỗ tay…

H: Vừa vỗ tay vừa hát Alibaba.

T: Hôm nay Alibaba đến đây chúng ta cùng nhau lắc eo.

H: Vừa lắc eo vừa hát Alibaba.

T: Tiếp tục trò chơi với các động tác: đấm lưng, sờ tai, dậm chân…

Trên đây chỉ là một số ví dụ về các bài học nâng cao SKTT của học sinh tiểu học, cụ thể là lớp Một. Đây là một môn học có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các thành viên tham gia quá trình giáo dục. Ở môn học này, mối quan hệ giữa người dạy - người học hiểu được nhau, chia sẻ với nhau; mối quan hệ giữa gia đình - nhà trường phối hợp, hỗ trợ thực sự cho nhau, cùng nhau hướng về mục tiêu chung là lợi ích đích thực của học sinh (không thể còn kiểu mâu thuẫn như ở trường cô giáo dạy đạo đức, về nhà bố mẹ đánh chửi nhau; học sinh chào thầy cô xong, quay ra nói bậy với bạn…).

Giáo dục lối sống (giáo dục đạo đức) về bản chất là giáo dục nhu cầu, theo nguyên tắc cơ bản là tôn trọng nhu cầu của trẻ em, giúp trẻ em tự xử lí trong chừng mức có thể. Khi được đáp ứng, được tôn trọng nhu cầu, chắc chắn rằng trẻ sẽ cảm thấy thỏa mãn, không có những phản ứng tiêu cực trong tâm lý cũng như  hành động. Và như vậy thì sức khỏe tâm thần của trẻ sẽ được đảm bảo ở mức tốt nhất.

3.2. Kết quả đạt được

Nhìn chung, các trường tham gia dạy thí điểm môn GDLS đều có những phản ánh tích cực về môn học này. Hầu hết các học sinh đều thực hành được các bài học cả ở trường và ở nhà nhờ có sự phối hợp giữa cha mẹ học sinh và thầy cô. Học sinh đã có những chuyển biến tích cực ban đầu trong hành vi ứng xử với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội sau khi học xong tập 1 sách Giáo dục lối sống lớp Một CGD. Sau học kì I, chúng tôi đã yêu cầu các trường gửi văn bản báo cáo kết quả môn học GDLS 1. Tôi xin trích dẫn một số ý kiến của các báo cáo  như sau:

Trường TH Hồ Tùng Mậu: Môn GDLS đã nhận được sự đồng tình ủng hộ lớn từ phía cha mẹ H. Theo các thầy cô phản ánh thì 100% H đều tiếp thu bài học GDLS khá tốt và vận dụng được cả các bài thực hành ở trường cũng như ở nhà. Học sinh đã tâm sự, chia sẻ các vấn đề của bản thân với thầy cô nhiều hơn. Điều đó đã góp phần vào việc giải tỏa tâm lý lo âu, căng thẳng của các em.

Trường TH Nghĩa Bình – Nam Định: Môn GDLS có kiến thức gần gũi, sát thực tế, phù hợp với trình độ của học sinh. Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập. Đa số đều có phản hồi tích cực về môn học này từ phía phụ huynh vì sự thay đổi về hành vi đạo đức của các em sau khi được thực hành tại trường, lớp. H đã biết tự phục vụ bản thân, biết cách ứng xử trong các tình huống cụ thể như: khi nào nên mách cô, khi nào tự mình có thể giải quyết vấn đề, khi cảm thấy lo lắng, không thích đi học thì em nên làm thế nào…

Trường TH Thực nghiệm Tây Ninh: Lãnh đạo trường nhận thấy môn GDLS là rất cần thiết với H nên đã sử dụng thiết kế GDLS cho cả khối 1 và khối 2 của trường. Kết quả đạt được ở cả 2 khối là khá cao. Đây là một trường học mà hầu hết học sinh đều có đạo đức tốt nên việc triển khai môn GDLS khá dễ dàng và hiệu quả.

Trường TH Nguyễn Du – Lào Cai: Học sinh có trình độ nhận thức đồng đều, cha mẹ học sinh quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Dạy - Học của thầy và trò.

Trường TH Thực nghiệm Hà Nội: : Nhà trường nhận được sự ủng hộ và đồng thuận cao từ phía cha mẹ học sinh và giáo viên khi tham gia dạy chương trình CGD. Một số phụ huynh phản ánh rằng con họ đã tự giác làm được rất nhiều việc và tích cực kể chuyện ở trường, lớp cho ông bà, bố mẹ nghe.

Trường TH Công nghệ Giáo dục Hà Nội: Nội dung mỗi bài học thiết thực, gắn với thực tế cuộc sống của các em.Thiết kế cụ thể, tỉ mỉ, rõ ràng các việc. Các kĩ năng sắp xếp phù hợp với từng giai đoạn học tập của các em, học sinh học hăng hái, hứng thú với những bài học có chuyện kể, lượng kiến thức nhẹ nhàng, phù hợp nên các em vận dụng khá nhanh và có hiệu quả…

Như vậy, kết quả trên cho thấy môn học GDLS – CGD đã giúp học sinh có những chuyển biến tích cực về tâm lý cũng như hành vi đạo đức. Cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Công nghệ Giáo dục đã có các chuyến đi công tác tại các trường thí điểm trên, trực tiếp dự giờ, đứng lớp tại một số trường học dạy môn GDLS – CGD. Kết quả: một số học sinh trước đây rất ít nói, ít tiếp xúc với thầy cô, bạn bè thì qua một số bài học thực hành của môn GDLS, các em đã mạnh dạn hơn, tự tin hơn trong giao tiếp. Vào đầu năm học, nhiều học sinh chưa biết tự phục vụ mình, thường ỷ lại bố mẹ làm hộ việc cá nhân thì hết học kì I, học sinh đã biết tự mình vệ sinh cá nhân, giúp đỡ gia đình những việc nhỏ. Ở mỗi bài thiết kế GDLS đều có phần về nhà kể chuyện ở lớp cho ông bà, bố mẹ nghe hoặc bài tập thực hành tại nhà. Cha mẹ học sinh đọc sách GDLS cho cha mẹ nên cũng đã giúp con em của mình thực hành bài học mọi lúc, mọi nơi. Việc trò chuyện, chia sẻ thường xuyên với ông bà, bố mẹ đã phần nào giúp các em gần gũi hơn với người thân trong gia đình, giải tỏa những căng thẳng, áp lực ở trường, lớp. Khi các em đã nói ra thì người lớn sẽ có cách giúp em giải quyết các vấn đề mà em đang băn khoăn, lo lắng. Chính vì vậy, có thể nói rằng, môn học GDLS – CGD đã có tác dụng nhất định trong việc hỗ trợ, nâng cao SKTT cho học sinh các trường đã tham gia thí điểm nói riêng và cho học sinh tiểu học nói chung.

4. KẾT LUẬN

Mọi trẻ em có quyền hưởng chăm sóc y tế toàn diện trong đó sức khoẻ tâm thần của các em cần được coi trọng như sức khoẻ thể chất. Đối với việc chăm sóc sức khỏe cho thanh thiếu niên đang đi học, năm 2006, chính phủ đã ban hành chỉ thị số 23/cT-TTg ngày 23/07/2006 về việc tăng cường công tác y tế trong trường học. Cũng trong năm 2006, Bộ Y tế đã ban hành “Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt nam, giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn 2020”. Trong đó “Sang chấn về tinh thần và các vấn đề khác liên quan đến SKTT” được coi là một trong các nguy cơ chính đối với sức khỏe của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, để triển khai các biện pháp phòng, chống nguy cơ gây ảnh hưởng đến SKTT trên diện rộng, đem lại hiệu quả cho thanh thiếu niên, ở độ tuổi theo học các bậc học, cho đến nay còn rất hạn chế. Việc trước mắt cần nâng cao nhận thức cho cha mẹ, giáo viên, đặc biệt là cho chính đối tượng thanh thiếu niên để có sự hiểu biết và chủ động phòng ngừa ngay từ khi có nguy cơ.

Mỗi trẻ em đều là tương lai của đất nước nên việc nâng cao SKTT cho học sinh là vô cùng cần thiết. Việc hỗ trợ, nâng cao SKTT cho học sinh cần phải có sự phối hợp đồng bộ của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Giáo viên cần vừa phải là người thầy, vừa như một người bạn luôn lắng nghe học sinh để giúp các em giải quyết những vấn đề về tâm lí. Tôi hi vọng bộ sách GDLS theo mô hình Công nghệ giáo dục sẽ được áp dụng rộng rãi hơn, đóng góp phần nào vào việc hỗ trợ, nâng cao sức khỏe thần kinh của học sinh tiểu học ngày nay.

Đỗ Thanh Huyền

Kỉ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc "Sức khỏe tâm thần trong trường học"

Tài liệu tham khảo

[1]    Nguyễn Thanh Bình (2007). Sức khoẻ tinh thần trẻ em, Bài tham dự Hội thảo: Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tinh thần trẻ em Việt Nam.

[2]    Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương (01/2005 – 01/ 2007). Dự án “Chăm sóc sức khoẻ tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội”.

[3]    Lê Thị Kim Dung và các cộng sự (2007). Bước đầu tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của học sinh ở một số trường trung học cơ sở thuộc một số thành phố, Đề tài nghiên cứu của Bộ giáo dục và Đào tạo.

[4]    Hồ Ngọc Đại – Tổng chủ biên (2013). Thiết kế Giáo dục lối sống lớp Một - Công nghệ giáo dục, Nxb Giáo dục Việt Nam.

[5]    Hồ Ngọc Đại (2010). Công nghệ học – tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam.

[6] Trần Thị Huyền (2010). Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh ở một số trường trung học cơ sở thành phố Long Xuyên, Báo cáo khoa học Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn.

[7]    Nguyễn Cao Minh (2010). Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở Miền Bắc có các vấn đề SKTT, Luận văn thạc sĩ - Đại học Giáo dục.

[8]   PGS.TS Đặng Hoàng Minh - chủ biên (2013). “Sức khỏe tâm thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ”, Báo cáo khoa học.

[9]   Ngô Thị Tuyên - Chủ biên (2013). Giáo dục lối sống cho cha mẹ học sinh, Nxb Giáo dục Việt Nam.

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED