Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Thực tiễn triển khai từ địa phương: Phải hơn 30 năm dạy học tôi mới có nghề

PHẢI HƠN 30 NĂM DẠY HỌC TÔI MỚI CÓ NGHỀ

 

Ra trường sư phạm (Khu học xá TW) năm 1952, tôi được Bộ Giáo dục điều về dạy học ở vùng địch hậu Kiến An, rồi về làm đào tạo bồi dưỡng giáo viên và Trung tâm phương pháp Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, cho đến năm 1994 thì nghỉ hưu.

Hồi học Sư phạm (Sơ cấp, Trung  cấp TW, Đại học Sư phạm Hà Nội), tôi may mắn được “tu nghiệp” ở các trường nổi tiếng với các thầy giỏi nhất nước về môn tâm lý giáo dục như thầy Vũ Văn Tảo, thầy Đức Minh, thầy Hà Thế Ngữ...

Sau khi nghỉ hưu, tôi làm giáo dục dân lập, nghiên cứu khoa học rồi làm Báo Hội, liên tục đến nay đã có "thâm niên" giáo dục 61 năm. Bây giờ, nhớ lại các bài giảng năm xưa của các thầy kính mến (đều đã quá cố), nay chỉ còn đọng lại trong tôi mấy nguyên tắc giáo dục của cụ Cai-rốp (nhà sư phạm Liên Xô thập niên 50, 60  thế kỷ trước), mấy thí nghiệm trên chó về phản xạ của Páp-lốp  và ông Ma-ka-ren-ko “đánh” học trò.

Khi ra nghề, tôi biết thêm phương pháp nêu vấn đề của Li-péc  (Liên Xô cũ).

Ở thập kỷ 60, toàn ngành rộ lên các đợt học tập, nguyên lý, phương châm giáo dục, các “tính”, các “bước” như bài giảng phải đủ 5 tính: tính tư tưởng, tính tích cực, tính thực tiễn, tính trực quan, tính khoa học... Hồi đó ai cũng thuộc câu vè: đầu đội nguyên lý, bụng thắt phương châm, vai đeo...

Vốn khoa học TL-GD chỉ có ngần ấy mà tôi cũng mầy mò, xoay sở “sáng tạo” ra khối “mẹo vặt” để soạn bài giảng, bồi dưỡng giáo viên và mang cả quân đi Đà Nẵng, Tây Ninh dự hội giảng “thay sách” toàn quốc giành toàn giải A cho Hải Phòng.

Hơn 30 năm hành nghề, bây giờ ngẫm lại mình quả là một cán bộ mẫn cán như chú  ngựa kéo xe bị che hai bên mắt, chỉ biết nhìn một hướng, độc đạo tiến lên theo giây cương chỉ huy của chú xà ích.

Do hạn chế lịch sử, hồi đó thầy tôi chỉ dạy tôi được đến thế và làm được thế tôi cũng không có gì áy náy mà còn tự hào nữa.

Điều phải đến sớm muộn gì nó cũng đến như khí trời mùa hè khi đã tích tụ thành oi nồng thì bao giờ cũng được hoá giải bằng một cơn gió giải nồng.

Mùa hè năm 1985, cơn gió giải nồng đó đã đến Hải Phòng, làm thức tỉnh nhiều đầu óc tư duy giáo dục tưởng như đã hoàn hảo và bất biến, trong đó của tôi.

Tôi tự hỏi làm gì có “công nghệ giáo dục”, con người có phải là cái máy đâu. Sao “thầy không cần giảng giải trò không cần cố gắng? trò tự làm ra kiến thức cho mình rồi dạy học không cho điểm? định bỏ thi đua hay sao?...”.

Những “lẽ phải thông thường” đại loại như trên của tôi, dần dần cũng đã chuyển động để bình tâm tìm hiểu cơn gió giải nồng CGD đã mang “lẽ phải bất thường”, có điều mới lạ gì đến Hải Phòng. Sao họ dám cam đoan học theo CGD, không có học sinh lớp 1  lưu ban, không thể “tái mù”, trong khi cuộc CCGD của chúng ta lại vừa vấp phải thất bại đầu tiên,  ngay ở lớp 1 = 60% học sinh lưu ban. Trên tầm vĩ mô hồi đó không khí đổi mới, dân chủ phê phán bao cấp đã tích tụ đủ để TW chuẩn bị mở Đại hội VI, thực hiện bước ngoặt lịch sử, xoá bỏ kế hoạch tập trung, thực hiện cơ chế thị trường nhằm khơi dậy mọi tiềm năng xã hội vô cùng to lớn còn bỏ ngỏ, trong đó có giáo dục.

Thế là “lẽ phải thông thường” sau hàng thế kỷ ngự trị đã chịu  nhường bước để “lẽ phải bất thường” CGD hiện diện tại thành phố Cảng. Chỉ trong vòng hơn một tháng trước ngày khai trường năm học 1985-1986, Giám đốc Sở đề nghị, UBND thành phố ra quyết định triển khai ứng dụng tại Hải Phòng đề tài thực nghiệm “Mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” (Đề tài cấp nhà nước do GS.TSKH Hồ Ngọc Đại làm chủ nhiệm).

Năm 1985, có 3 lớp 1 (ở 1 trường), năm sau có 6 lớp 1, 2  (ở 2 trường). Hai năm sau, 2 huyện An Hải, Vĩnh Bảo xin mở thực nghiệm. Sau 5 năm, năm 1990, khoá lớp 1 thực nghiệm đầu tiên thi tốt nghiệp theo đề đại trà, đỗ 100% (khá giỏi 80%).

Tháng 12 năm 1990, Bộ Giáo dục  tổ chức nghiệm thu Đề tài với quy mô lớn chưa từng có. Tại Hải Phòng có tới 42 Giáo sư và chuyên gia đầu ngành của các Vụ, Viện, trường Đại học do Thứ trưởng dẫn đầu, làm việc nghiêm túc, khảo sát tay đôi với từng học sinh.

Sau 3 ngày khảo sát, đề tài trên được nghiệm thu, kết quả xuất sắc.

Đánh giá chung  của Hội đồng nghiệm thu là HSTN vượt trội, đặc biệt là môn Tiếng Việt lớp 1, học sinh có kỹ năng nghe, đọc, viết đạt trên chuẩn  của Bộ, không thể “tái mù” tư duy lại phát triển, có lối sống hồn nhiên. Mở rộng đại trà là việc không còn bàn cãi nên từ năm học 1992 - 1993 , Sở quyết định 100% lớp 1 từ nội thành đến  huyện đảo học sách Tiếng Việt CGD, với trên 40.000 HS, hơn 1000 thầy cô giảng dạy và hàng chục ngàn cha mẹ  HS tin tưởng cho con học sách CGD .

“Đại trà hoá” được 10 năm thì năm 2002 , dựa vào nghị quyết Quốc hội cả nước dạy một bộ sách (với mỗi môn, mỗi khối lớp) CGD bị bóp chết hợp pháp mà không một lời tuyên bố giải thích,  khiến nửa triệu HSTN cùng với hàng chục ngàn thầy cô, trên 40 tỉnh  thành cả nước vô cùng ngạc nhiên và khó hiểu.

Ở Hải Phòng, công sức của hàng chục ngàn thầy cô và cha mẹ học sinh cho con học TN ròng rã gần 20 năm trời, đã tạo ra hàng chục ngàn sản phẩm giáo dục vượt trội, đã được Nhà nước đánh giá nghiệm thu, nay xoá tên, mà “cấp  trên” không một lời giải thích, khích lệ cảm ơn thầy cô và nhân dân, thay vào đó là sự làm thinh, khó hiểu, làm mọi người nghĩ đến một văn hoá ứng xử hạn hẹp của cấp trên đối với người lao động đứng lớp vất vả ở cơ sở. Gần 20 năm ý thức trách nhiệm cao với học sinh, say mê dũng cảm, dấn thân vì khoa học “trồng người”, như chồi non vùa đâm lộc, đang xanh tốt bỗng bị chém đứt lìa cành.

Công nghệ giáo dục gián đoạn 10 năm nhưng thành tựu của nó được sử dụng mà không mua bản quyền: quan điểm coi học sinh là nhân vật trung tâm được chính thức xác nhận, chỉ đổi cách gọi “tất cả hướng vào học sinh”, khẩu hiệu “mỗi ngày tới trường là một ngày vui” xuất hiện ở khá nhiều trường mầm non, và tiểu học. Rồi các thuật ngữ quy trình công nghệ, thao tác dạy học, bóng dáng lý thuyết tập hợp được sử dụng trong sách giáo khoa đại trà... Thật xúc động khi có cô giáo thực ngiệm khoe với tôi toàn bộ giáo án thiết kế dạy thực nghiệm cô cất giữ từ năm 85,86. Có trưởng phòng huyện cất công sưu tầm sách CGD  xuất bản từ 1985 . Có trưởng phòng Sở kể về một phụ huynh có con học TN trước đây,  nay ra học đại trà nhưng vẫn nhờ giáo viên thực nghiệm dạy thêm vì sợ lạc hậu.

Có Trưởng phòng Sở khoe mới phô tô được cuốn sách “Tôi nghĩ và làm giáo dục  như thế” của GS.TSKH Hồ Ngọc Đại, và có lãnh đạo Sở phải mất 2 năm kiên trì và chờ đợi để Hải Phòng dạy lại sách Tiếng Việt 1 CGD kể từ năm học 2013 – 2014. Trong 10 năm gián đoạn, đội ngũ giáo viên TN Hải Phòng chưa bao giờ nản lòng, luôn nhớ ơn những điều tốt đẹp do CGD đem lại. Nhờ CGD mà họ tạo ra được sản phẩm có chất lượng. Qua đó tay nghề của họ được nâng cao và họ đã tìm thấy nghề đích thực và tinh xảo từ CGD.

Quay lại câu chuyện “30 năm day học mới có nghề” của tôi thì 30 năm ấu trĩ đó tôi như người “định nghĩa con voi”. Vì voi quá lớn mà tầm nhìn lại thấp bé nên khi sờ vào chân voi thì bảo voi giống cột đình, khi sờ vào tai lại bảo voi giống cái quạt... Thật may mắn cơn gió giải nồng CGD hè - thu 1985 ấy đã về và tôi là người sớm được hưởng gió mát, cơn gió đó chính là “cô giáo trẻ” CGD tươi mới là người đã dạy tôi bài học “vỡ lòng” về nghề, để tôi có thể tận hưởng vẻ đẹp chân xác, vẻ đẹp toàn cảnh của “chú voi giáo dục” to lớn. Theo CGD tôi mới biết các tên tuổi giáo dục nổi tiếng như Dewey, Montessori, Piaget, Leontiev, Vưgơtxki, Galperin...

Vậy điều gì đã khiến tôi giác ngộ, trải nghiệm rồi đeo đẳng “cô giáo trẻ CGD” gần 30  năm  qua? Động lực gì vậy? Đơn giản vì vẻ đẹp của CGD, vẻ đẹp không phấn son, không uốn éo mà “hữu xạ tự nhiên hương”, đẹp từ, bởi, do cái Chân (khoa học) và nhờ đó có cái Thiện (tốt), cái Mỹ (Đẹp).

Vẻ đẹp mộc mạc như một cô gái chân đất đồng quê, như bông lúa củ khoai nuôi sống xã hội. Vẻ đẹp giản đơn mà chân xác ấy, nó đã có sẵn muôn đời nay, Hồ Ngọc Đại không sáng tạo ra nó mà chỉ phát hiện và muốn nhắc nhở rằng: đừng quên nó, hãy nghĩ đúng về nó vì nó là chân lý. Hồ Ngọc Đại cũng có “đổi mới” gì đâu, mà chỉ “Làm đúng” nguyên lý giáo dục Macxit đã có hàng trăm năm nay rồi.

Cái CHÂN (khách quan khoa học) là gốc của THIỆN và MỸ. Chối bỏ cái CHÂN là chối bỏ sự thật, nói ảo làm ảo, đều không thể mang cái tốt cái đẹp cho trẻ em.

CÁC-MÁC đã có luận điểm nổi tiếng về giáo duc: CON NGƯỜI TỰ SẢN SINH RA MÌNH CHÍNH BẰNG VIỆC CON NGƯỜI LAO ĐỘNG CẢI TẠO HOÀN CẢNH. Luận điểm đó chính là cái hồn cốt của CGD, của giáo dục. Như vậy, học sinh cũng phải “tự sản sinh” ra mình trong quá trình học tập rèn luyện. Còn tôi, 30 năm nhờ tìm hiểu trải nghiệm tác động vào học sinh và sách giáo khoa CGD, tôi cũng đã TỰ SẢN SINH RA TÔI một lần nữa, tôi đã tự tìm thấy nghề đích thực, và tinh xảo.

Một vài trang giấy tuyên truyền không thể làm thay sự trải nghiệm lao động của tôi, của bạn. Vậy chúng ta hãy đi, tự đi một ngày đường sẽ học được sàng khôn. Có tự TRẢI thì mới có NGHIỆM. Có tự SẢN thì mới có tự SINH ra cái KHÔN, cái ĐẸP cho mình.

Từ năm học này CGD đã trở lại Hải Phòng, có mặt  ở các quận, huyện. Hãy dự giờ, giao lưu với thầy cô CGD, nghe các em đọc, xem các em viết, chắc chắn bạn sẽ được chia sẻ nhiều điều bổ ích về nghề cao đẹp và tinh xảo của chúng ta, và thấy được CGD, do các em thi công như thế nào, thao tác ra sao dưới sự thiết kế của thầy. Thi công làm ra kiến thức cho mình, tự sản sinh  ra mình chính là hồn cốt của CGD, là vai trò trung tâm của HS, là vẻ đẹp NHÂN VĂN HỌC ĐƯỜNG.

“Phụ lục” cho bài này, xin đọc thêm 2 đoạn văn ngắn tiếp liền sau đây được trích từ “Tâm lý học dạy học” (Hồ Ngọc Đại) và giáo trình CĐSP của nhà XBGD.

Các thầy tôi kể trong bài báo này: Thầy Đức Minh, Hà Thế Ngữ, Thầy Tảo... đã dạy tôi những bài học đầu tiên về nghề làm thầy, và cũng còn phải kể thầy Võ Thuần Nho, thầy Việt Phương đã dạy tôi nhiều điều hệ trọng và vô cùng bổ ích về chính trị, về phương pháp luận, về cách mạng và nhân dân. Tôi coi đó là những viên gạch đầu tiên xây nên cuộc đời, sự nghiệp 60 năm giáo dục của tôi.

Sau này, tôi được cộng tác khoa học giáo dục thực nghiệm - với GS.TSKH Hồ Ngọc Đại: Tuy anh Đại học sau tôi 2 lớp nhưng tôi vẫn coi anh, GS.TSKH Hồ Ngọc Đại  như là thầy tôi.

Và nghĩ lại, các thầy tôi kể trên, và cả tôi, học trò của các thầy đều là "Người khu học xá" cả, cái nôi của giáo dục đào tạo cả nước trong thời kháng chiến gian khổ, vào những năm 50 thế kỷ trước, một ngôi trường lớn đặc biệt, một tầm nhìn chiến lược, một niềm tự hào, một mốc son đỏ chói, một vầng trăng vằng vặc còn soi tỏ những vấn đề  giáo dục hôm nay. Chúng tôi biết ơn khu học xá đã rèn luyện, dìu dắt chúng tôi nên người, đã thật lòng nghe lời Bác và thực hành lời dặn của Bác: Vì nhân dân phục vụ!

 

Nguyễn Trung Chính

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED