Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Tóm tắt sách Kính gửi các bậc cha mẹ

Ở phần đầu, cuốn sách có tóm tắt quá trình nghiên cứu trẻ em của Piaget, trong đó 6 chặng đường đầu tiên của sự nảy sinh và hình thành trí khôn

Đó là:
1.    Sự luyện tập các phản xạ ấy
2.    Những thói quen đầu tiên do hoạt động của bé tạo ra trong đời sống cá nhân nó
3.    Sự phối hợp, nhìn và cầm nắm để kéo dài (lạp lại) nhưng điều bé thích
4.    Vận dụng những thành tựu đã có vào tình huống mới, chưa hề có
5.    Phát hiện những phương tiện mới để làm thử và qua đó, trẻ đã phân biệt được mục đích và phương tiện
6.    Tìm ra phương tiện mới bằng cách tổ hợp trong đầu- dấu hiệu của khả năng “bỗng nhiên hiểu ra” và cũng là dấu hiệu đã có biểu tượng
Từ kết quả nghiên cứu của Piaget cho chúng ta thấy các phép thử phải rất chuẩn xác mới đủ sức phát hiện ra cái đã có. Tuy nhiên, phương pháp thử bằng phép thử (test) không cho chúng ta biết vì sao có được thành tựu tâm lý ấy, mặc dù nó cho chúng ta biết được trật tự chúng xuất hiện kế tiếp nhau.
II. Sự chuyển hóa biện chứng của tự nhiên được tác giả lý giải:
    Thế giới vô cơ là một thực thể trừu tượng, chỉ là một mục đích tự nó và vì nó. Mãi sau này, nó mới trở thành vật liệu để sáng tạo ra cái mới là sự sống
    Sự sống lúc đầu xuất hiện cũng chỉ là một thực thể hết sức trừu tượng, với tư cách là một mục đích tự nó và vì nó. Sau đó, nó phát triển thành thực vật
    Khi lịch sử đã có thực vật, ta mới thấy thế giới vô cơ trước kia vốn là một mục đích tự nó và vì nó đã tự nguyện phục vụ cho mục đích của kẻ khác là tạo ra cơ thể vật chất của thực vật.
    Đến lượt mình, từ một mục đích tự nó và vì nó, thực vật lại tự nguyện làm phương tiện để phục vụ cho một mục đích khác tiến bộ hơn, đó là động vật. Lịch sử đã sáng tạo ra thực vật từ hôm qua, thì hôm nay mới có “vật liệu” để làm ra động vật, chứ không thể cứ việc đưa tay với lấy vật liệu cũ từ thế giới vô cơ.
Và cứ như thế, phải chuẩn bị trong hàng tỷ năm, lịch sử mới sáng tạo ra nổi phạm trù Người. Để làm ra cơ thể người, lịch sử đã tinh chế những thành tựu hàng tỷ năm, làm ra các cơ thể khác. Sau này, người ta phát hiện ra gen di truyền để lý giải cho việc cùng công nghệ sinh đẻ nhưng có sự khác nhau. Tất cả bí mật của tự nhiên được giấu ở gen, bí mật di truyền được chương trình hóa ở gen. Chính kỹ thuật gen đã đảm bảo cho sản phẩm có đúng những đặc điểm mong muốn, vượt qua được sự may rủi, nhưng không thể dùng để “cải tạo giống người”. Việc đem đặc điểm của loài này gán cho loại kia là một sự lầm lẫn về khái niệm.
Chính cái hành vi trực quan duy nhất đưa hai loại gen lại với nhau đã tạo ra cơ hội hiểu lầm là hai cá nhân ấy làm ra mà không hiểu toàn bộ “quy trình công nghệ” đều có sẵn từ trước. Nếu xét về mặt công nghệ sinh đẻ, việc làm sinh đẻ của con người không có gì mới hơn so với việc động vật đã làm.
Công nghệ sinh đẻ có ba dạng chính:
    Công nghệ làm ra sự sống giản đơn nhất (con amip tự tách đôi bản thân mình).
    Công nghệ làm ra thực vật và tái tạo nó (trồng bằng cành, gieo hạt)
    Công nghệ làm ra động vật và tái tạo nó (sự giao phối giữa tinh trùng và trứng)
Cả 3 dạng trên có một nguyên lý duy nhất là Di truyền, chênh nhau ít nhiều về trình độ phát triển. Tuy nhiên, các công nghệ ấy khác nhau ở cách thể hiện, ở mặt thực tiễn, không phải ở nguyên lý di truyền.
III. Phần này, tác giả đưa ra khái niệm trí khôn (bắt đầu thấy rõ từ cuối năm thứ 2, khi trẻ đã có biểu tượng và biết phối hợp các thao tác trong đầu, không phải trên hiện trường vật chất).
Lúc đầu, trí khôn xuất hiện là trí khôn cảm giác- vận động (loại này không khác nhiều với trí khôn động vật), hay còn gọi là trí khôn trực tiếp. Tiếp theo, tính gián tiếp tạo ra trí khôn đủ sức đưa con người tách biệt được với thế giới động vật còn lại. Và phải đến lúc lấy hòn đá sắc cạnh chặt một cành cây làm gậy khều thì lúc đó mới xuất hiện được trí khôn người hay có thể nói cách khác là trí khôn người gắn liền với lao động (lao động sản xuất). Điều này được Ph. Ăng- ghen cho rằng “bước quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người là phân biệt chức năng của tay (hai chi trước) và chân (hai chân sau) mà kết quả là đi thẳng được.”. Không những thế, ông còn viết tiếp “nhưng bàn tay không phải là biệt lập, nó chỉ là một trong những bộ phận của một cơ thể cực kỳ phức tạp. Cái gì có lợi cho bàn tay thì cũng có lợi cho toàn bộ cơ thể”. Tuy nhiên, bàn tay cũng chưa đủ sức hình thành nên nguyên lý gián tiếp và chưa đủ “thiết bị” cho một công nghệ mới nên con người mới cho ra đời các thiết bị mới như cuống họng, lưỡi, môi . . . gọi là bộ máy phát âm. Nhờ có nó, tiếng nói trở thành công cụ tiện lợi nhất để thực hiện sự phát triển tâm lý theo nguyên lý gián tiếp.
Như vậy, để thiết kế công nghệ hình thành trí khôn người, con người đã sáng tạo ra:
    Bằng vật chất, định hình vững chắc: công cụ, tư liệu lao động nói chung như cày, cuốc . . .
    Bằng vật chất nhưng dễ tan biến: ngôn ngữ
Cùng là vật chất (giống nhau về chất liệu: cấu trúc và sự vận hành) nhưng khác nhau về vật liệu nên được quy ước như sau:
    Công cụ là những gì có thực trong cuộc sống, có hình thù xác định, vững chắc, có thể cảm nhận trực tiếp bằng những giác quan được gọi là vật thật.
    Ngôn ngữ có thực nhưng lại ở trong đầu, không trông thấy được nhưng có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan được gọi là vật thay thế.
Mối tương quan giữa vật thật và vật thay thế là hết sức cơ bản, đó là mối liên hệ cốt lõi trong công nghệ hình thành trí khôn. Việc nhầm lẫn vật thật- vật thay thế sẽ cho sản phẩm giả. Ví dụ: Chữ là vật thay thế cho tiếng. Chữ số là vật thay thế cho số. Việc tập trung dạy chữ và chữ số là hiện tượng lộn ngược hay hiện tượng đánh tráo.
Mối tương quan này được mô hình hóa như sau:

 

Vật thật         Kí mã     Vật thay thế

Giải mã

Muốn dạy cho trẻ các thao tác giải mã- kí mã, cần:
    Phải có vật thật trước mắt
    Phải làm mẫu y như thật
    Phải luyện tập thường xuyên
    Cần luyện tập giải mã ngay sau kí mã
    Khi luyện tập mẫu cần cứng nhắc, ổn định, hay không thay đổi điều kiện, hoàn cảnh cho đến khi trẻ làm đúng thì thôi. Mỗi khi trẻ làm đúng cần được khen ngay.
Quá trình dạy trẻ cần phát triển trên nền tình cảm, tình thân yêu trìu mến. Nhưng khi đã dạy nói nên nói đúng, nói chuẩn từng âm tiết, âm vị. Nói tiếng nào, chuẩn tiếng ấy.
Ngôn ngữ dạy cho trẻ vừa là mục đích, vừa là công cụ. Học nói với tư cách là mục đích, trẻ cần phải nói các từ thật chuẩn xác về mặt ngữ âm và phải đặt từ đúng với cái (vật thật tương ứng với từ). Trong thực tế, không nên dạy các từ riêng lẻ, mà đặt nó trong câu, trong một hoàn cảnh. Chính vì trẻ học nói trong hoàn cảnh sống tự nhiên với vô vàn “nhiễu”, xét theo quan điểm “khoa học thuần túy”, nhưng chính vì vậy mà nó tạo nên một sức ngấm hết sức vững chãi, (người lớn học ngoại ngỡ từng từ rời một cách nhân tạo “thuần khiết” nên số từ ấy trôi nổi bồng bềnh không ăn nhập gì với nhau).
Cũng chính vì thế nên dạy theo kiểu “định nghĩa” một đối tượng có thể làm thỏa mãn người hỏi, vì câu trả lời có sẵn trong đầu người hỏi, nhưng đối với trẻ em thì không có hiệu quả vì trẻ em chưa có gì trong đầu nên cần tạo ra cái mới, lần đầu tiên có trong đời nó. Nói cách khác, người lớn cần có một bản thiết kế, theo đó trẻ em tự mình thi công để tạo ra cái mới cho chính mình. Bản thiết kế đấy cần được triển khai trên hai hình thức:
    Trên vật thật
    Trên vật thay thế
Để thi công hiệu quả, trẻ dùng tay làm các thao tác trên các đồ vật thật, đây chính là thế giới gần gũi nhất, tạo cơ sở vững chắc nhất cho đời sống tâm lý. Cũng chính vì thế nên chẳng cần đến các lý thuyết về thao tác hiện đại mà nhân loại vẫn dạy nhau qua các thao tác. Như vậy, trí khôn hình thành vững chắc nhất qua thao tác, rồi sau đó mới chiếu lên màn ảnh ngôn ngữ. Nói cách khác, cần dạy trẻ làm các thao tác tự phục vụ, song song với việc dạy nói. Dạy thao tác cũng như dạy nói phải chuẩn xác ngay từ đầu, thật nghiêm chỉnh.
IV. Trẻ em tự sinh ra mình. Qua phân tích một số tư tưởng triết học, tác giả đưa đến những nhận định sau:
    Xét một người là xét việc làm của anh ta, xét hiệu quả thực tế mà anh ta tạo ra trong cuộc sống trần thế. Bằng hành động thực tiễn, con người tạo ra cho mình một thế giới vật chất mà các thế giới tự nhiên xưa kia nay thu nhỏ lại như một bộ phận trong đó.
    Thế giới vật chất có trước mắt ta (thế giới khách quan) bao gồm thiên nhiên, lẫn những vật thể do con người sáng tạo ra được gọi là hiện thực thường xuyên của con người. Việc nhìn, nghe, sờ, ngửi . . . những “vật thể” trong cái HTTX ấy cũng tức là một cách nhìn, nghe, sờ, ngửi . . . cái tình thần của chúng hay là cái chất người. Về mặt giáo dục, phân biệt thêm:
o    Cái HTTX đang có của loài người, xứng đáng nhất với cả loài người lúc ấy là cái HTTX của người lớn đương thời.
o    Cái HTTX của trẻ em được hình thành dần dần cùng với quá trình sống của nó. Tuy nhiên, tất cả những cái làm nên HTTX của trẻ em đều bị khống chế ngặt nghèo bởi cái HTTX của người lớn đương thời.
    Cái sẽ có trong đầu trẻ em thì trước đó vốn đã có ở ngoài nó, ở trong cái HTTX của loài người. Cho nên:
o    Chuyển từ ngoài vào trong đầu trẻ em
o    Cải biến đi ở trong đó
    Do đó, trẻ em lĩnh hội những gì có từ trong HTTX,  tức là nó làm lại cái mà lịch sử đã làm trước đó. Như vậy, quá trình giáo dục sẽ là:
o    Làm cái gì?
o    Làm bằng cách nào
o    Trẻ tự mầy mò lấy hay ai dạy nó.
Tóm lại, con người được trời cho cơ thể vật chất, như đã từng cho mọi loài, còn cái chất người thì để cho con người tự chế tạo lấy. Những cái do người làm ra có hai hình thức:
    Tinh thần, ý thức, tâm hồn
    Thế giới vật thể, vật chất
Trong đó, cái này chỉ là cách biểu hiện của cái kia, nhìn vào cái này thì thấy cái kia, hay con người lại biết tự nhân đôi mình và luôn luôn sáng tạo ra cái mới, làm nên chất người. Nói một cách khác, chính cái cơ thể người không còn nguyên sơ như động vật. Con mắt cha mẹ sinh ra không hơn gì con mắt của động vật nhưng con mắt người lại được sáng tạo ra (tri giác và hưởng lạc). Sự sáng tạo này được con người hình thành trong quá trình sống (cái hay, cái đẹp). Cũng chính vì vậy nên tâm lý người không phải ở trong đầu mỗi người mà ở trong cái HTTX ngoài các cá nhân. Ai muốn biết trình độ phát triển tâm lý của một xã hội thì hãy nhìn vào HTTX của nó. Ai muốn biết trình độ phát triển tâm lý, tinh thần, ý thức, tâm hồn . . . của một cá nhân thì hãy nhìn vào việc họ làm, sản phẩm lao động do họ tạo ra.
V. Người lớn
Người lớn là người lao động sản xuất với hai phương thức duy trì sự sống:
    Phương thức trưởng thành (dùng cho cơ thể vật chất)
    Phương thức phát triển
Sự sống đích thực của Người là ở tinh thần, văn hóa. ĐÓ là phương thức sống do con người tự sáng tạo ra. Văn hóa đầu tiên và cốt lõi của người là văn hóa duy trì đời sống vật chất. Có 2 vấn đề cần lưu ý:
    Về mặt lý thuyết, cách duy trì đời sống cơ thể của người cũng chỉ là kéo dài cách cổ truyền mà lịch sử đã dùng để nuôi cơ thể thực vật, động vật
    Về mặt thực tiễn, bản thân cơ thể người cũng đã có những cải biến cơ bản, cho nên phải nuôi nó một cách có văn hóa, tinh tế hơn.
Cũng chính vì thế nên 2 bước tiến quan trọng của lịch sử Người là:
    Người tự tách mình ra khỏi thế giới động vật
    Người lớn tự tách mình ra khỏi trẻ em
Về vấn đề này được hiểu như sau: Vào thời kỳ làm ăn còn lạc hậu, mọi người dễ chấp nhận nguyên tắc người này làm chuẩn cho người kia. Còn giữa các thế hệ, thế hệ già hơn là tấm gương cho thế hệ trẻ soi vào để thấy tương lai của mình. Chừng nào bản thân quá trình lịch sử còn trong giới hạn của nguyên lý tiểu nông, văn hóa tiểu nông thì sự khác biệt giữa các thế hệ hay giữa các cá nhân không thoát khỏi khuôn phép nó đã xác lập. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại đã xuất hiện khái niệm mới, đó là khái niệm trẻ em hiện đại, khác hoàn toàn với khái niệm trẻ em là người lớn thu nhỏ hay không phải là người lớn thu nhỏ (vì đều lấy người lớn làm mốc).
VI. Trẻ em là trẻ em
Về thời gian, khái niệm trẻ em thường bị chặn lại trong khoảng cách từ lúc sinh cho đến lúc trở thành người lao động sản xuất, bị chi phối bởi nền sản xuất đương thời, bởi lực lượng sản xuất- quan hệ sản xuất và mọi quan hệ xã hội nói chung.
Trẻ em là một thực thể tự nhiên. Điều này được hiểu là trẻ em được coi là một thực thể đang sinh thành và tồn tại trong sự sinh thành ấy. Tuy nhiên, bản tính tự nhiên của trẻ vẫn mang tính xã hội. Tính xã hội này thống nhất với tính tự nhiên kia làm nên trẻ em như một thực thể tự nhiên, như sự kết tinh tự nhiên của đời sống người nói chung. Từ trước đến nay, tính tự nhiên ấy thể hiện chủ yếu ở tính tự phát, còn từ nay trở đi, tính tự phát ấy liệu có trở thành tự nhiên do một công nghệ đem lại.
Một công thức đặc trưng của công nghệ giáo dục là A  . Công thức này không phải thể hiện tính độc đoán của người lớn, mà chỉ là cách giúp trẻ em thực hiện sự phát triển tự nhiên của mình theo một cách “nhân tạo”, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ, công thức này không can thiệp vào sự trưởng thành của cơ thể. Mong muốn sâu xa nhất mà công nghệ giáo dục vươn tới là tạo ra sự phát triển gần sát nhất với sự phát triển tự nhiên của trẻ nên thoạt đầu, công thức A  a được triển khai ở giáo dục phổ thông và bắt đầu từ A là các môn khoa học.
Sự phát triển tự nhiên của trẻ được thể hiện ở một đứa trẻ được nuôi (và dạy) một cách tự nhiên với những gì đang có trong cuộc sống của nó như không khí nó hít thở, những vi trùng mà nó làm quen, rồi đến phong tục- tập quán . . . thì nó sẽ khỏe mạnh. Điều này được kiểm chứng qua hàng triệu năm khi thiên nhiên đã huấn luyện cho các thực thể sống có năng lực “tự điều chỉnh” để sống hòa hợp với hoàn cảnh.. Nếu cần lời khuyên, thì tiếng nói cần lắng nghe nhất chính là cuộc sống hằng ngày của trẻ.
VII. Tình thương
Trong triết học và tâm lý học, vấn đề này chưa thể cư xử một cách khoa học với tình cảm, nhu cầu và động cơ. Và dù chưa có được cách cư xử khoa học, chúng ta vẫn sống một cách bình thường với đời sống tình cảm, vẫn thỏa mãn được nhiều nhu cầu nảy sinh từ cuộc sống . . . Như vậy, tình cảm là sự gắn bó thật tình nhất giữa chủ thể và cuộc sống của nó, bằng sự cảm nhận chứ không phải được truyền cho và quá trình nuôi dạy trẻ bao giờ cũng đặt trong các mối quan hệ. Vấn đề là chỗ trẻ nhập thân vào các quan hệ ấy như thế nào, cảm nhận được bao nhiêu. Các quan hệ ấy cứ mở rộng dần theo tầm phát triển của trẻ, cũng theo sự phát triển của nhu cầu sống. Tiến trình phát triển ấy theo quy luật chung, đi từ trừu tượng đến cụ thể, ngày càng cụ thể hơn.
Cách dạy tốt nhất và cách nuôi tốt nhất là bằng tình thương. Điều bạn có thể làm tốt nhất với trẻ là lấy trẻ làm chuẩn cho mọi cách cư xử của mình, theo cách có lợi cho trẻ. Đứa trẻ lớn lên sẽ như thế nào về mặt tâm hồn, tính tình, trí tuệ, nhân cách  . . . đều tùy thuộc phần lớn vào tình thương được hưởng từ lúc lọt lòng và suốt thời thơ ấu.
Tình cảm là lĩnh vực sâu thẳm bên trong của đời sống, nó không thể “tự dối mình” và còn khó bị đánh lừa hơn.
VIII. Tuổi thơ là một sự kiện lịch sử
Trẻ em sinh ra đã sống trong xã hội loài người nên ngay từ đầu, trẻ em đã là thành viên chính thức của xã hội loài người. Điều này nói lên chỉ có sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn trong tư cách là thành viên chính thức.
    Người lớn đã đạt đến hình thức phát triển chính thức của mình, chủ yếu là về mặt xã hội, đã là người lao động sản xuất của thời mình sống.
    Trẻ em đang phát triển chưa đạt đến trình độ ấy và tính lịch sử thể hiện ở trẻ em của thời đại được đo bằng công cụ, về mặt tâm lý thì công cụ được thể hiện ở thao tác.
Điều này được minh chứng qua các thời kỳ lịch sử. Vào thời kỳ lịch sử trước, trẻ em phải học để sử dụng công cụ sản xuất và cũng là học để trở thành người lớn. Ngày đó, khó mà thấy rõ sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn, nếu không nhìn vào cơ thể. Lúc đầu, trẻ em học là trực tiếp tìm hiểu cách sử dụng công cụ sản xuất và cách làm ăn sinh sống nói chung. Về sau, các em học gián tiếp, để làm quen với mô hình của nền sản xuất.
Vào thời kỳ hiện nay, giáo dục không nhất thiết gắn liền với lao động sản xuất, mà có thể tách ra (một cách tương đối) và cho phép tách hẳn trẻ em ra khỏi người lớn. Điều này tạo ra sự phát triển của bản thân nó, trở thành chính nó với tất cả những nét độc đáo của riêng nó. Lúc này, tuổi thơ các em được chia làm hai thời kỳ (lấy thao tác làm chỉ tiêu về mặt kỹ thuật):
    Thời kỳ hình thành các thao tác vật chất (bằng tay, cơ thể). Các thao tác này có thể ví như các vật liệu. Với những vật liệu như nhau có thể xây các ngôi nhà hoàn toàn khác nhau. Năng lực tổ hợp các thao tác là nét nổi bật, làm rõ sự khác biệt giữa người và súc vật. Giai đoạn này trước 6 tuổi và cuộc sống thường ngày ở nhà, khu phố cũng giúp nó biết cách và đủ khôn ngoan truyền lại cho trẻ toàn bộ những thao tác chân tay cần cho cả cuộc đời trẻ về sau.
    Thời kỳ hình thành các thao tác trí óc. Giai đoạn này (từ 6 tuổi trở đi), con người đã tự tách mình ra khỏi quá trình thực tiễn, đứng xa ra nhìn vào, trí óc có thể phát triển theo cách của mình. Nếu những thao tác vật chất được hình thành một cách tự nhiên ngay trong thực tiễn đời sống thì thao tác trí óc cần được huấn luyện đặc biệt và đó là chức năng của nhà trường hiện đại.
IX. Sáu năm đầu tiên
Trong giai đoạn này, không có lứa tuổi nào gọi là quan trọng hơn, chuẩn bị cho lứa tuổi khác và được coi là “chính thức”. Mỗi lứa tuổi có việc làm dành riêng cho nó, có vị trí và vai trò của nó trong đời sống cá nhân. Đây chính là sự cấu tạo hợp lý nhất mang tính tuyến tính trong thực tiễn đời sống, sao cho mỗi việc làm tạo ra một sản phẩm (coi như mục đích), để sau này đời người còn dùng nó mãi mãi (như công cụ, phương tiện). Trong giai đoạn này, trẻ em tự mầy mò lấy chừng nào nó còn có thể tự mầy mò ra, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là cách làm tốt nhất ở lứa tuổi này, cách này tạo nên kinh nghiệm do bản thân từng em cảm nhận, đúc kết, tinh chế và kinh nghiệm giai đoạn này đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Kinh nghiệm là sự lắng đọng tự nhiên của đời sống thường ngày, một sự chọn lựa hợp lý nhất trong hoàn cảnh sống của từng cá nhân. Cuộc sống thực hàng ngày của cá nhân như thế nào thì cá nhân là thế ấy. Ở đây, xin hiểu kinh nghiệm là cái chất người tự nhiên chắt lọc từ hoàn cảnh sống của chính mình (hay được gọi là văn hóa). Cái kinh nghiệm cá nhân, cái chất người tự nhiên được hình thành từ tuổi ấu thơ được đề cập trong giai đoạn này để cho người lớn có ý thức hơn về hoàn cảnh sống của con em mình. Trong hoàn cảnh mới, hoàn cảnh mà những biến động long trời lở đất trên thế giới đã lan đến nước ta, sự đảo lộn liên tiếp trong sản xuất với sự rung chuyển không ngừng của toàn bộ xã hội cứng đờ và hoen gỉ, buộc người lớn cần từ bỏ định kiến có từ trước mà tìm hiểu trẻ em hiện đại và cư xử với nó phù hợp với khái niệm về nó. Do đó, người lớn vừa nuôi dạy trẻ vừa thăm dò để điều chỉnh hành vi của mình. Nếu trẻ chấp nhận tự nhiên thì coi như là được, nếu trẻ từ chối thì phải điều chỉnh.
Quá trình phát triển của trẻ từ 0- 6 tuổi trải qua mấy cuộc khủng hoảng:
    trẻ sơ sinh- 1 tuổi: chỉ có một hoạt động trong quan hệ giữa mẹ và trẻ, quan hệ này còn quá trừu tượng, chưa phân hóa
    từ 1 đến 3 tuổi: Hoạt động chủ đạo của trẻ nhằm vào quan hệ bé- đồ vật mà chủ yếu là cư xử với đồ vật theo luật (cách) của đồ vật. Cách cư xử này xác định được nghĩa (khái niệm) của đồ vật bằng cách:
o    Hành động trực tiếp lên đồ vật
o    Bằng âm thanh với tư cách là vật thay thế cho các đồ vật (tiếng nói)
    Từ 3 đến 6 tuổi: trẻ vẫn tiếp tục tích lũy nghĩa, nhưng hoạt động chủ đạo của trẻ nằm trong quan hệ với người lớn, về mặt đạo đức, tình cảm, trẻ tiếp tục lĩnh hội luật  của những quan hệ xã hội, Ý của các hành động của mình (hay được gọi là quá trình hình thành nhân cách của trẻ), thể hiện cá tính của từng người, ở quan điểm sống của cá nhân.
Khi phân tích sự phát triển tâm lý của trẻ trong mối quan hệ giữa trẻ- người lớn- đồ vật để thấy rằng tiến trình phát triển tâm lý không phải bằng phương thức công thêm vào mà bằng sự cấu tạo lại qua mỗi lần khủng hoảng để tạo ra chất mới. Cấu tạo mới trong tâm lý được hình thành như là mục đích sau mỗi cuộc khủng hoảng, rồi sẽ phát triển đến giới hạn logic của nó và quá trình đó đồng thời cũng chuẩn bị các nhân tố làm ra cuộc khủng hoảng mới.
X. Giáo dục gia đình
Sáu năm đầu tiên, trẻ sống tự nhiên nhất trong gia đình. Con nhà nghèo có hoàn cảnh tự nhiên của nó, con nhà giàu có hoàn cảnh tự nhiên của nó nhưng dù giàu, nghèo cách xa nhau thì vẫn có một nền văn hóa chung của toàn xã hội, cho cả thế hệ. Mỗi trẻ em đều có một khả năng bỏ ngỏ như nhau trong việc hấp thụ nền văn hóa đó. Tất cả trẻ em, không có ngoại lệ, đều sống trong bầu trời văn hóa ấy. Nền văn hóa nuôi sống trẻ em về cơ thể lẫn tinh thần trước hết là văn hóa vật chất qua thức ăn, âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật . . . nên tuổi thơ= tuổi lĩnh hội nền văn hóa xã hội đương thời. Ở đây có một số điểm lưu ý:
    Trẻ đã biết những gì?
    Sức hiểu biết ấy lấy cái chuẩn là khả năng tham gia quá trình sản xuất thực tiễn của xã hội hiện đại dành cho cá nhân với tư cách người lao động sản xuất bộ phận.
    Tính đương thời (thành tựu cuối cùng vào thời điểm sống)
Như vậy, mỗi đứa trẻ là một sản phẩm tự nhiên như một định mệnh của mỗi gia đình. Tuy không được chọn trước hoàn cảnh sống (gia đình) nhưng tất cả những gì có ở trẻ đều do nó tự làm ra hay thực chất là tiếp thu từ đời sống gia đình. Trẻ tiếp thu văn hóa gia đình một cách trung thành nhất, liên tục. Tất cả những gì hiện thực trong gia đình đều làm thành cơ thể và tâm hồn bé, làm nên chính đứa trẻ có một không hai đó và để trở thành người, chỉ có thể thông qua con đường giáo dục. Khi kỹ thuật sản xuất còn đơn giản, người lớn đã truyền kinh nghiệm cho thế hệ trẻ theo phương pháp truyền tay, trực tiếp trong cuộc sống thường ngày. Sự phát triển của phương thức truyền tay vẫn phù hợp trong điều kiện sản xuất nhỏ, dựa vào công cụ thủ công và tay nghề. Tuy nhiên, khi kỹ thuật sản xuất đã trở nên phức tạp thì sớm muộn phải có phương pháp giáo dục mới.
XI. Trẻ em là tấm gương sáng
Trẻ 6 tuổi bình thường đã nói sõi, nói đủ điều, đủ sức giao lưu, tiếp thu kinh nghiệm và thực hiện các quan hệ xã hội (hay là đã có trí khôn). Ở tầm quốc gia, người ta có thể thấy một cách thuần khiết những đặc điểm của thời đại, dân tộc, cộng đồng. Trong gia đình, tấm gương trẻ em cho thấy:
    Bản chất văn hóa của nhân cách bố mẹ
    Cách giáo dục con, vấn đề quen gọi là “gia phong”, tức là mối quan hệ có thực trong gia đình giữa các thành viên.
XII. Kính gửi các bậc cha mẹ
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, tác giả chia dân cư làm 2 lớp người:
    Người lao động sản xuất (còn gọi là người lớn) là sản phẩm của quá khứ, có thể hy vọng cải tạo họ . . . nhưng thực tiễn thì chỉ căn cứ vào những gì họ thực có và tận dụng những gì họ đang có hay nói cách khác là người lớn đã chính thức là mình với tất cả những gì đã có, là một thực tế
    Trẻ em là một thực thể còn nhiều tiềm năng, một khả năng bỏ ngỏ, một đại lượng chưa đo được, còn đang phát triển.

Như vậy, khi trẻ sinh ra thì nhà giáo dục và cha mẹ đồng nhất, chưa phân hóa. Cha mẹ vừa nuôi dạy và là nhà giáo dục đầu tiên. Khi trẻ càng lớn lên (từ 6 tuổi), quá trình giáo dục càng phức tạp thì cần đến một “công nghệ giáo dục” với nhiệm vụ cơ bản là việc nào mà tự mình thì trẻ không làm được, nhưng có người lớn giúp đỡ và công tác thì trẻ làm được. Tiếp đó, để nâng cao hiệu quả giáo dục, trong mỗi việc, người lớn cần giúp cho trẻ dùng hết sức mà không quá sức (dùng hết sức một cách tự nhiên, không cần cố gắng), là cách thức giúp trẻ luôn ở tư thế tiến lên. Việc tiến lên một cách tự nhiên là cách tốt nhất để củng cố những thành tựu đã có. Bằng cuộc sống thực của bản thân, thế hệ trẻ sẽ trở thành chính nó, người lớn chẳng những không nên chống lại xu thế tự nhiên ấy mà còn chủ động ủng hộ nó, tổ chức quá trình phát triển đó. Mà cách tốt nhất chính là thông qua việc làm, và đấy cũng là bí quyết của nền giáo dục hiện đại. Từ một phương thức giáo dục (cũ) bằng lời nói và biểu tượng chuyển sang phương thức giáo dục bằng việc làm là tất cả những điều cần thiết trong giáo dục hiện đại ở giai đoạn hiện nay.

Người tóm tắt
Phạm Duy Anh

 









 


Kí mã

 

Giải mã

Muốn dạy cho trẻ các thao tác giải mã- kí mã, cần:

- Phải có vật thật trước mắt

- Phải làm mẫu y như thật

- Phải luyện tập thường xuyên

- Cần luyện tập giải mã ngay sau kí mã

- Khi luyện tập mẫu cần cứng nhắc, ổn định, hay không thay đổi điều kiện, hoàn cảnh cho đến khi trẻ làm đúng thì thôi. Mỗi khi trẻ làm đúng cần được khen ngay.

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED