Ngô Thị Tuyên: 090 346 7887
Ngô Hiền Tuyên
: 098 303 3405

Lịch sử hình thành Công nghệ giáo dục

Ý tưởng về Công nghệ giáo dục nảy sinh và hình thành trong thời gian 1972-1976, khi Hồ Ngọc Đại làm luận án Tiến sĩ khoa học tại trường đại học Lomonosov ở Liên Xô. Ông nhận thấy giáo dục cổ truyền mang tính giáo điều, thuyết lí, áp đặt một chiều, phương pháp tư duy siêu hình. Căn cứ vào tính lôgic trong mối quan hệ nội tại của khái niệm, Hồ Ngọc Đại đã tìm tòi, nghiên cứu nội dung, phương pháp và cách tổ chức giáo dục mới.

Năm 1978, Hồ Ngọc Đại mở trường Thực nghiệm tại Hà Nội. Đường lối của ông nhằm “Hiện đại hóa nền giáo dục” và “Công nghệ hóa quá trình giáo dục”. Đường lối này thể hiện một hướng đi và một cách làm giáo dục mới nhằm chủ động tìm giải pháp căn bản và toàn diện cho nền giáo dục. Hồ Ngọc Đại đã thiết kế một quy trình làm giáo dục mới.

Ý đồ sâu xa của Công nghệ giáo dục là khả năng kiểm soát quá trình giáo dục, là ý thức về tiến trình phát triển tự nhiên của trẻ em trong cuộc sống nói chung và trong giáo dục nói riêng. Công nghệ giáo dục là một cách làm giáo dục chủ động, có căn cứ khoa học, dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và thành tựu của tâm lí học thế kỷ XX. Nó phản ánh trung thực phương pháp của nền sản xuất vật chất thời kì công nghiệp hóa. Xét về mặt kĩ thuật thuần túy, “Công nghệ giáo dục mượn nguyên lí cơ bản của công nghệ sản xuất đại công nghiệp là phân giải quá trình sản xuất ngay trong bản thân nó thành các yếu tố cấu thành nó”.  Hồ Ngọc Đại ví Công nghệ giáo dục như “cuống nhau người mẹ nối liền thai nhi với nền văn minh hiện đại”.

Công nghệ giáo dục là nghiệp vụ sư phạm tổ chức và kiểm soát quá trình giáo dục, phân giải bản thân quá trình giáo dục, nắm lấy bản thân quá trình và từng bước một, chắc chắn thực hiện quá trình sao cho sản phẩm giáo dục nếu không là tất yếu thì cũng phải đáng tin cậy. Công nghệ giáo dục là giải pháp tổng thể cho một nền giáo dục. Nó bao gồm một hệ thống khái niệm khoa học, một công nghệ thực thi và đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống.

“Công nghệ giáo dục không phải chỉ thể hiện một tiến trình hoạt động thực tiễn giáo dục mà cũng đồng thời thể hiện những tư tưởng lí luận giáo dục. Sự thống nhất này được thể hiện bởi sự thống nhất giữa CÁI cần học và CÁCH học, là sự thống nhất giữa nội dung - phương pháp - tổ chức giáo dục.”.

Tư tưởng giáo dục cơ bản của Hồ Ngọc Đại là: Thầy giáo (người lớn nói chung) tổ chức - Học sinh hoạt động để lĩnh hội (chiếm lĩnh) nền văn hoá loài người. Tư tưởng này được tác giả diễn đạt dưới công thức A → a, trong đó A là hệ thống các khoa học, → là quy trình công nghệ mà học sinh thực hiện, còn a là sản phẩm giáo dục mà nhà trường trả lại cho xã hội theo đơn đặt hàng của xã hội, a là năng lực, là đạo đức, là nhân cách của học sinh, do chính học sinh tự tạo ra trong quá trình thực hiện quy trình công nghệ. Như vậy, CGD xem trẻ em không phải là đối tượng chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ động, mà là một chủ thể hoạt động để tự sinh ra mình, trẻ em hoạt động để tự tạo ra sản phẩm giáo dục, để trở thành cá thể người, một thành viên của xã hội có thể sống và hoạt động có kết quả trong xã hội hiện đại.

Công nghệ giáo dục trước khi vào đại trà đã được kiểm chứng qua thực tiễn, chắc chắn ở từng công đoạn. Việc đưa CGD với các mẫu đã được môđun hoá vào đời sống nhà trường được Hồ Ngọc Đại ví như đưa các thành tựu đại công nghiệp vào nước ta. Đó là con đường đưa từ trên xuống (chứ không phải chờ sáng kiến, kinh nghiệm từ dưới lên). Quá trình đó phải đi qua ba bước:
a) Trước hết, chế tạo mẫu ở Trung ương. Đây là bước nghiên cứu khoa học đích thực, nhằm khám phá, phát minh,..., tức là thiết kế và thi công mẫu CGD cho đến khi định hình được mẫu (đến mức môđun hoá).
b) Bước 2 - đem mẫu đó về địa phương (cấp tỉnh, thành phố) để thử độ tin cậy. Nhiệm vụ cơ bản nhất lúc này là chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho địa phương làm quen với CGD như làm quen với việc đưa máy cày vào đồng ruộng. Chừng nào tự nó đã có sức thuyết phục và có thể kiểm soát được, thì mới chuyển sang bước tiếp theo.
c) Bước 3 - triển khai đại trà. Gọi là đại trà, nhưng không làm đồng loạt ồ ạt, mà phải phân hoá từng bước, theo trình độ văn minh, giống như đưa tivi vào cuộc sống: ban đầu ở thành phố, thị xã, thị trấn, rồi theo ven lộ và sâu dần.
Hồ Ngọc Đại chỉ ra sự khác biệt giữa hai cách làm giáo dục: “Cách làm theo Công nghệ giáo dục và theo tổng kết kinh nghiệm các đơn vị tiên tiến như xưa nay làm có chỗ khác biệt không thể so sánh được là một bên có thể kiểm soát tiến trình, còn bên kia chỉ biết trông chờ vào may rủi và những đặc điểm cá nhân (địa phương), chứ đâu có biết quy luật hình thành mẫu mà có cách làm tin cậy, chắc ăn, để nhân mẫu đó ra ở nơi khác, trong thời gian khác. Công nghệ giáo dục là lời tuyên bố chấm dứt cách làm ăn theo kinh nghiệm và những sáng kiến tự phát từ đời sống thường ngày”.
Tổng kết kinh nghiệm là nhằm vào cái đã có, còn nghiên cứu khoa học bằng thực nghiệm coi cái chưa có là đối tượng nghiên cứu. Tổng kết kinh nghiệm các trường tiên tiến không có nhiều giá trị thực tế bởi nó ở các hoàn cảnh không gian, thời gian khác, gắn liền với điều kiện của quá khứ. Cuộc sống liên tục thay đổi, biến động. Những thành tựu lịch sử đều có thể tồn tại mãi mãi cùng lịch sử, chúng chỉ bị phủ định về mặt triết học. Hai hướng đi trong nghiên cứu khoa học này xuất phát từ hai tư tưởng triết học khác nhau. Một đằng theo chủ nghĩa duy vật siêu hình (tổng kết kinh nghiệm thực tiễn), một đằng theo chủ nghĩa duy vật biện chứng (chủ động tạo ra cái mới, đưa hiện thực vươn lên ngang tầm tư tưởng, lí luận). Nền sản xuất đại công nghiệp và thực nghiệm khoa học có thể coi là cặp sinh đôi, còn thực nghiệm khoa học giáo dục ra đời muộn hơn, được có vài chục năm. Hồ Ngọc Đại là người đầu tiên trên thế giới (kể từ 1978) làm được thực nghiệm giáo dục trên hàng loạt trẻ em bình thường, ở tất cả các môn học trong một bậc học.

Tóm lại, việc xây dựng một hệ thống lí luận giáo dục mới không phải làm bằng ngôn từ, trên văn bản, mà thực ra, đồng thời phải tiến hành thực nghiệm, để dựng lên một mô hình có thực trong thực tiễn cho lí luận đó. Trường Thực nghiệm Giảng Võ ra đời năm 1978 nhằm cho mục đích đó.

Thực nghiệm khoa học là một quá trình rất cơ động bao gồm cả việc thực nghiệm cách thực nghiệm. Thực nghiệm không có mục đích tự thân, mà chỉ là một phương tiện nghiên cứu khoa học. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục bằng các mô hình thực nghiệm hiện nay được coi là tiên tiến nhất, hiện đại nhất bởi những kết luận của nó (lí luận và thực tiễn) đáng tin cậy.

Tóm lại, CGD là một cách làm giáo dục có cơ sở khoa học của triết học duy vật biện chứng, dựa trên thành tựu tâm lí học và khoa học chuyên ngành hiện đại và được kiểm chứng qua thực tiễn.

TS. Ngô Thị Tuyên

1

1

*
*
*
*
*

REGISTER_REQUIRED